Bỏ qua, tới nội dung chính
← Tất cả màn

Đội hình chương 20: màn 20-10 đến 20-80

8 màn · 59 đội hình

Chương 20 lắc lư giữa những trận thắng dễ và những bài kiểm tra thật. 20-10 là bài kiểm tra sát thương, có người mất cả mấy tiếng mới qua, trong khi 20-20 thì nhiều người hạ ngay lần đầu. 20-40 thưởng cho ai xếp khéo, chỉ cần đẩy vài con lên vùng được tăng sức là xong. Trùm hề ở 20-50 là trận người ta thích chép một đội đã thắng hơn là tự mò. 20-70 đưa Shellshy, con gốc của dòng Boldclaw, trở lại làm hộ vệ thứ hai trong một làn nước, còn trùm 20-80 có con quái đầu cỏ có thể nhảy sang làn phải của bạn. Cấp đề xuất trải từ khoảng 348 tới 396.

Waveflutter, Frostique, Rockwu và Tideon gánh chương này, còn Cheerspring, bản T3 của con cổ vũ, giờ đảm nhận việc hồi máu. Điệu nhảy của nó hồi máu, tăng công thủ và cho một lần bất tử ngắn cho đồng đội gần đó đang nguy, nên con nào cần nhất thì đứng sát nó. Bào tử của Trippet là nguồn tăng sức thứ hai cần tính chỗ đặt. Bọ ngựa T3 quan trọng ở 20-10, nhưng 20-60 có bản cho người chưa có nó, kèm lời nhắc là cấp thấp thì sẽ sát nút. Ở 20-80, thiếu cây nấm T2 là đủ để làn phải của một người chơi sụp đổ.

Tóm tắt

Level đề xuất
344–443
Tatari xuất hiện nhiều nhất
  • Rockwu
  • Blitzmane
  • Frostique
  • Azurion
  • Waveflutter

VD: 12-40

Màn 20-10

10 đội hình · Level đề xuất: 344–412

Ghi chú về màn 20-10

20-10, màn cấp 396, là bài kiểm tra sát thương. Một người chơi kể đã thua trùm khi dùng con gà thay cho bọ ngựa T3 vì không đủ sát thương, người khác mất khoảng ba tiếng ở cấp 348 rồi mới qua ở cấp 363, võ đường 4-3-3-3-3.

Cách xếp được gợi ý cho ai chưa có bọ ngựa T3 là đặt con gà trước Ignisnap, nhưng phải để ý sát thương, vì trùm có thể trụ lâu hơn bạn. Đẩy cả đội hình xuống một hàng đôi khi cũng giúp được. Trong Đội hình 1, ô đó là Stalkerix, dẫn làn 4 từ hàng hai với Ignisnap và Flarevix phía sau một ô trống.

Làn thứ ba gồm Electroar, Synthhog, Waveflutter và Zapantler, con bướm ngay trước con hươu. Làn thứ nhất gồm Cobbledon, Turtuff và Surgehoof. Làn thứ năm là Swaystroll, Frostique và Tideon. Làn thứ hai gồm Cheerspring ở hàng ba và Rockwu ở cuối.

Một người chơi sau màn này kết luận mình phải có hươu T3.

Cheerlet ba lần thay Cheerspring, Blitzmane hai lần thay Electroar. Với màn này, Zapooch hoặc Voltling từng thay Surgehoof, Boldclaw từng thay Swaystroll.

Mở trang màn 20-10 →

Màn 20-20

6 đội hình · Level đề xuất: 344–411

Ghi chú về màn 20-20

20-20, được ghi ở cấp 396, là màn qua ngay lần đầu với không ít người. Một người cấp 360, võ đường 4-3-3-3-3, bất ngờ vì qua luôn từ lần thử đầu, người khác còn hỏi màn này thì ai cần giúp.

Đội hình 1 cho bốn làn bắt đầu từ hàng hai. Trên lưới, làn 3 là làn dài: Stalkerix, Rockwu, Synthhog và Tideon, nên trinh sát và dễ vỡ từ con dơi cùng sương của Tideon đều rơi trước bản sao của chú khỉ.

Về cách xếp, làn 5 là làn nước kết thúc bằng sét: Swaystroll, Ospisces và Zapantler. Ospisces kéo quái dồn lại và chồng suy yếu trong xoáy nước, ngọn giáo của con hươu xuyên qua đám vừa bị kéo. Làn 4 được giao cho Zapooch, Cheerspring và Surgehoof. Thành phần làn 2: Firecoil, Frostique và Waveflutter.

Thành phần làn 1: Capobeetle và Azurion ở hàng bốn và năm, một cú lao và một nguồn thiêu đốt mà không có bức tường nào.

Cheerlet hai lần thay Firecoil. Từng có lượt dùng Goonbug thay Capobeetle, Serrabloom từng thay Stalkerix nếu bạn có bọ ngựa T3.

Mở trang màn 20-20 →

Màn 20-30

6 đội hình · Level đề xuất: 344–410

Ghi chú về màn 20-30

20-30, màn cấp 396, mở ba làn từ hàng đầu. Xếp ở làn 3 là Frugatoad, Trippet và Tideon, một tay đánh đứng đầu và bào tử phía sau. Phía làn 2 là Rockwu, Cheerspring và Waveflutter sau một ô trống. Làn 4 được xếp Electroar, rồi Flarevix và Ignisnap sau một ô trống.

Ở bàn này, làn 1 là làn nước pha sét từ hàng hai: Frostique, Sealoon và Zapantler. Bóng nảy của Sealoon gây suy yếu, nên đám quái bị Frostique làm chậm đánh trả yếu đi, còn giáo của con hươu xuyên qua chúng.

Ở bàn này, làn 5 là làn cỏ phía sau: Stalkerix, Pandaroot và Capobeetle. Tre của Pandaroot làm chậm liên tục và càng để lâu càng mạnh, rất hợp với một làn bắt đầu muộn.

Với một đội hình khác, có người chơi nói Snowcub có thể thay bằng bất kỳ con đỡ đòn hệ nước nào, còn Capypapa thì cũng chẳng cần lắm, họ quên bỏ ra. Một người chơi cấp 363, võ đường 4-3-3-3-3, đã qua bằng một bản được chia sẻ.

Theo lưới, Cactobloom hoặc Swaystroll từng thay Sealoon, Frugagon từng thay Frugatoad, Cobbledon từng thay Waveflutter.

Mở trang màn 20-30 →

Màn 20-40

6 đội hình · Level đề xuất: 344–410

Ghi chú về màn 20-40

20-40, ở cấp 396, thưởng cho việc xếp vị trí. Trong đội hình này, một người chơi cấp 363, võ đường 4-3-3-3-3, kể đã đẩy vài con lên để nhận thêm hiệu ứng, và thế là qua.

Hiệu ứng ở đây đến từ Cheerspring và Trippet. Về bố cục, Cheerspring ở làn 2, hàng ba, sau Cobbledon và Rockwu, trước Pandaroot, hồi máu và tăng sức cho các con quanh nó. Thêm nữa, Trippet ở làn 3, hàng ba, sau Stalkerix và Synthhog, trước Frugatoad, tăng tốc đánh với cái giá là chút máu.

Hai làn đó bắt đầu từ hàng đầu và gánh cả bàn. Làn số 4 có Swaystroll, Ignisnap và Waveflutter, nên con bướm ngay sau nguồn thiêu đốt. Thành phần làn 1: Tideon và Zapantler ở hàng ba và bốn. Xếp ở làn 5 là Frostique và Flarevix ở hàng ba và bốn.

Với màn này, làn 1 và làn 5 đều không có hộ vệ. Nếu định đẩy linh thú lên, đây là hai làn mà chênh một hàng cũng tạo khác biệt lớn nhất.

Từng có lượt dùng Kitjitsu thay Flarevix, cho làn đó một con biết tự hồi máu.

Mở trang màn 20-40 →

Màn 20-50

10 đội hình · Level đề xuất: 348–443

Ghi chú về màn 20-50

20-50 là màn trùm chú hề ở cấp 348, và người chơi chẳng ai muốn tự mình đối mặt. Một người cấp 389 nói thẳng là không bao giờ muốn tự xử con trùm chú hề trong cốt truyện, nên chép luôn một đội hình đã được kiểm chứng.

Đội hình 1 đặt một làn đá sâu năm ô ở giữa ngay từ hàng đầu: Turtuff, Rockhog, Rattlecoil, Waveflutter và Humbleetle. Bùn của Rockhog làm chậm, loạt sóng nhanh của Rattlecoil có thể gây choáng, bóng phân của Humbleetle làm chậm thêm lần nữa, còn Waveflutter ngồi giữa Rattlecoil và Humbleetle, nên đòn của cả hai đều có thể mang theo làm chậm và ngủ.

Đứng ở làn 4 là Synthhog ở hàng đầu, rồi Rockwu, Cheerlet và Azurion. Làn 2 là chỗ của Blitzmane, Kitjitsu và Tideon. Làn 1 xếp Voltling, Zapantler cách hai hàng.

Thành phần làn 5: Frostique ở hàng bốn, nên phần lớn sức phòng thủ của bàn nằm ở bốn làn còn lại.

Có lần Zapooch được dùng thay Blitzmane, Firecoil hoặc Bubbit từng thay Tideon, Sparkdoe từng thay Zapantler.

Mở trang màn 20-50 →

Màn 20-60

7 đội hình · Level đề xuất: 348–423

Ghi chú về màn 20-60

20-60 (cấp 348) có một con bọ ngựa T3 ở đầu làn 1, và người chơi kể là không có nó qua được. Một người chia sẻ bản chỉnh nhẹ cho trường hợp không có bọ ngựa T3 và cảnh báo có thể sát nút nếu cấp thấp.

Đó là ô then chốt. Serrabloom đứng một mình ở làn 1, hàng ba, đánh liên tục và gây dễ vỡ. Phía sau không có ai, nó tự giữ cả một làn, nên dùng bản T2 mới thành sát nút.

Phần còn lại của bàn đều sâu. Đội hình làn 2: Blitzmane, Firecoil, Humbleetle và Tideon. Ở làn 3 là Swaystroll, Capypapa, Frostique và Waveflutter. Xếp ở làn 4 là Frugagon, Cheerspring, Cluckeroo và Azurion, có hai con hồi máu. Nhìn sang làn 5: Turtuff và Rockwu.

Người chơi cũng lưu ý hai điều về bản T3: tầm hỗ trợ của con bướm đêm mở rộng ở T3, còn Pyropup thì tầm rộng hơn và gây suy yếu. Một người nói con bướm đêm T2 của mình ít ra cũng không cản bước họ.

Trong lưới được ghi, Stalkerix hoặc Slobberlama từng thay Serrabloom. Có lúc Capobeetle được đặt vào chỗ Cluckeroo, Zapantler từng thay Humbleetle.

Mở trang màn 20-60 →

Màn 20-70

5 đội hình · Level đề xuất: 348–415

Ghi chú về màn 20-70

20-70, màn cấp 348, ghi Shellshy, dạng gốc của dòng Boldclaw, ở giữa một làn nước. Nó đứng ở làn 5 giữa Swaystroll và Frostique, bắn một đợt bong bóng gây sát thương diện rộng, làm hộ vệ thứ hai sau con đỡ đòn.

Làn đó chạy được là nhờ Swaystroll đứng đầu. Khiên băng giữ tuyến và tích lực, Shellshy góp chút sát thương, băng của Frostique lo phần làm chậm.

Làn 3 là làn đá: Turtuff, Rockwu, Waveflutter và Humbleetle, con bướm kẹp giữa chú khỉ và con bọ hung. Làn thứ tư gồm Serrabloom, Cheerspring và Tideon, nên sương dễ vỡ của Tideon chồng lên dễ vỡ của chính bọ ngựa. Làn thứ nhất gồm Blitzmane, Synthhog và Zapantler. Làn thứ hai là Firecoil và Azurion ở hàng ba và bốn.

Một người chơi cấp 363 với võ đường 4-3-3-3-3 đã vượt qua nhờ một đội hình được chia sẻ.

Capypapa, Sealoon hoặc Bubbit đều từng thay Shellshy, Snowcub hoặc Cheerlet từng thay Firecoil.

Mở trang màn 20-70 →

Màn 20-80

9 đội hình · Level đề xuất: 352–423

Ghi chú về màn 20-80

20-80 là trùm của chương ở cấp 352, và con quái gây rắc rối là con xác sống đầu cỏ, có thể nhảy sang làn bên phải của bạn. Một người chơi kể đội hình của họ y hệt bản được chia sẻ, khác là chưa có cây nấm T2, và làn phải gãy. Hươu T3 được nhắc tới như một lối đi khác.

Trong Đội hình 1, làn phải là làn 5: Cobbledon, Rattlecoil và Humbleetle từ hàng đầu. Loạt sóng nhanh của Rattlecoil có thể gây choáng, bóng phân của Humbleetle làm chậm, và đó là thứ phải xử con xác sống đó khi nó đáp xuống.

Mọi làn đều bắt đầu từ hàng đầu. Làn 2 được xếp Blitzmane, Firecoil, Rockwu và Tideon. Làn thứ ba gồm Swaystroll, Capypapa, Frostique và Waveflutter. Làn số 4 có Frugagon và Cheerspring, Azurion cách hai hàng. Phía làn 1 là Serrabloom.

Xét bố cục, một người chơi cấp 362, võ đường 4-3-3-3-3, kể hai làn cuối của họ còn mạnh hơn cả con trùm.

Clangnaga, bản T3 của Taptail, từng thay Rattlecoil, sóng của nó còn xuyên thấu. Có lúc Turtuff được đặt vào chỗ Cobbledon, Stalkerix từng thay Serrabloom, Zapantler từng thay Tideon, Electroar từng thay Capypapa, Trippet từng thay Firecoil.

Mở trang màn 20-80 →

Đội hình được đánh số theo thứ tự hiển thị ở trên, tính từ trái sang phải, từ trên xuống.

Đội hình được chọn lọc từ cộng đồng và chạy thử trước khi đăng · Hình: Clash of Critters Wiki