Bỏ qua, tới nội dung chính
← Tất cả màn

Đội hình chương 21: màn 21-10 đến 21-80

8 màn · 80 đội hình

Chương 21 khá dễ chịu với người chưa tiến hoá hết. Nhiều màn ghi con sư tử, con nai và con khỉ bằng tên gốc là Zappur, Voltfawn và Punchimp, nên bạn có bản nào thì đặt bản đó vào, vì cú đẩy lùi của sư tử và phân thân của khỉ bậc nào cũng dùng được. Gương mặt mới đến đều đặn: Pyroprawn ở giữa làn lửa của 21-10, Buzzbeak làm tường ở đầu làn 5 của 21-30. Cấp đề xuất trải từ khoảng 369 tới 431. Trùm 21-50 được khen là dễ ngay lần đầu, còn trận cuối 21-80 thì một người thắng khi đồng hồ về không, người khác còn bốn giây.

Bàn nào cũng gần như thấy Azurion, Capobeetle, Pyrohound, Frostique và Waveflutter, Serrabloom, Cheerlet, Turtuff và Tideon theo ngay sau. Capobeetle lao xuyên qua quái trong trạng thái bất tử và để lại hiệu ứng dễ vỡ, mở màn rất tốt cho bất kỳ làn nào. Serrabloom, bọ ngựa T3, chém diện rộng liên tục và cũng chồng dễ vỡ, nên hai con này cùng nhau làm mềm quái cho cả đội. Buzzbeak chỉ phát huy khi có đồng đội đứng cạnh để nối. Ở trùm cuối, con quái đầu cỏ nhảy làn quyết định khá nhiều phần may rủi, nên đánh lại vài lần với đúng đội đó rồi hẵng dựng lại.

Tóm tắt

Level đề xuất
357–451
Tatari xuất hiện nhiều nhất
  • Blitzmane
  • Azurion
  • Frostique
  • Rockwu
  • Waveflutter

VD: 12-40

Màn 21-10

10 đội hình · Level đề xuất: 366–435

Ghi chú về màn 21-10

21-10, được ghi ở cấp 386, đưa Pyroprawn, bản T2 của Shrimpyro, vào giữa làn lửa. Làn thứ ba là Pyrohound ở hàng hai, Pyroprawn và Flametail. Pyroprawn tung đấm liên tục và đôi khi gây thiêu đốt, thêm một nguồn thiêu đốt cho làn vốn dựa vào cột lửa của Pyrohound và pháo hoa của Flametail.

Nhìn lưới, làn 1 là làn chú hổ: Kitjitsu, Frostique và Azurion. Thiêu đốt của Azurion cho Kitjitsu những mục tiêu đang cháy để lao vào và hồi máu.

Làn 4 sâu nhất: Blitzmane, Cheerspring, Synthhog và Zapantler, sĩ khí của sư tử phủ cả làn. Làn số 2 có Capobeetle, Frugagon và Waveflutter, con bướm ngay sau quả gai. Làn thứ năm là Voltling và Zapooch, tê liệt và sét dây chuyền mà phía sau không có ai.

Một bản được chia sẻ đã giúp người chơi cấp 363 có võ đường 4-3-3-3-3 vượt qua bàn này.

Xét bố cục, Firecoil hoặc Trippet từng thay Pyrohound. Xét bố cục, Tideon, Puffbelly hoặc Charflutter từng thay Pyroprawn, Tideon, Clawzor hoặc Swaystroll từng thay Kitjitsu.

Mở trang màn 21-10 →

Màn 21-20

10 đội hình · Level đề xuất: 357–435

Ghi chú về màn 21-20

21-20, được ghi ở cấp 410, ghi hai dòng linh thú bằng tên dạng gốc. Zappur, chú sư tử, dẫn làn 2, còn Punchimp, chú khỉ, ở cuối làn 5. Dù bạn có dạng nào, sóng của sư tử đẩy lùi, còn dòng khỉ gọi bản sao đánh cùng.

Một người chơi cấp 363, võ đường 4-3-3-3-3, kể làn năm phải thử khá nhiều lần. Làn đó là Pyrohound ở hàng hai, Charflutter, Humbleetle và Punchimp. Vòng lửa của Charflutter vừa hồi máu vừa gây sát thương diện rộng lớn và tăng công, nên nó gánh phần lớn việc cho cột lửa và con bọ hung.

Xếp ở làn 3 là Frostique, Trippet, Ripplewing và Tideon, một làn nước với bào tử ở giữa. Làn thứ nhất là Capobeetle, Serrabloom và Frugagon. Làn thứ hai là Zappur, Cheerlet và Turtuff. Xếp ở làn 4 là Azurion ở hàng bốn.

Một người khác chỉnh nhẹ vì bướm và sư tử của họ mới T2, người nữa thì thú thật phải xoay xở sáng tạo ở vài màn vì không đọc kỹ kỹ năng của một bản tiến hoá.

Waveflutter hai lần thay Ripplewing. Từng có lượt dùng Blitzmane thay Zappur, Rockwu từng thay Capobeetle, Swaystroll từng thay Trippet, Blueflick hoặc Ignisnap từng thay Azurion.

Mở trang màn 21-20 →

Màn 21-30

10 đội hình · Level đề xuất: 382–449

Ghi chú về màn 21-30

21-30, màn cấp 431, cho mọi làn bắt đầu từ hàng hai. Làn 5 có một con đỡ đòn mới ở đầu: Buzzbeak, bản T2 của Sparkeet. Nó được giảm sát thương nhờ trạng thái tích điện và nối với đồng đội, cho họ tăng công tích điện, còn nếu không có đồng đội ở gần thì nó đánh bằng dòng điện yếu. Zapooch và Sparkdoe đứng ngay sau, nên lúc nào nó cũng có đồng đội để nối.

Về cách xếp, làn 3 là làn dài: Turtuff, Rattlecoil, Ripplewing và Rockwu, choáng và ngủ trước chú khỉ. Làn số 2 là Blitzmane, Voltling và Frostique. Làn 4 gồm Pyrohound, Cheerspring và Azurion. Làn 1 dành cho Capobeetle và Frugagon.

Ở đây, một người chơi cấp 368, võ đường 4-3-3-3-3, kể đây là lần đầu họ dùng con mèo may mắn Kittazap trong một bản khác, và gọi nó là linh thú bị đánh giá thấp thật sự. Cũng có bản thay thế cho ai có Sparkdoe T2.

Từng có lượt dùng Stalkerix thay Capobeetle.

Mở trang màn 21-30 →

Màn 21-40

10 đội hình · Level đề xuất: 361–442

Ghi chú về màn 21-40

21-40, màn cấp 410, ghi nhiều dòng linh thú bằng tên dạng gốc, nên hãy hiểu Zappur là sư tử, Voltfawn là hươu, Punchimp là khỉ, Clucky là gà. Làn 2 quy tụ Zappur ở hàng đầu, rồi Voltfawn và Tideon ở cuối. Giáo của con hươu ở dạng nào cũng xuyên thấu và gây tê liệt. Làn thứ ba gồm Punchimp ở hàng ba, sau Cobbledon và trước Humbleetle cùng Ripplewing.

Làn 1 quy tụ Serrabloom, Pearpair và Clucky. Serrabloom gánh cả làn bằng những đòn liên tục gây dễ vỡ, Pearpair đứng sau làm hộ vệ thứ hai, còn Clucky ở hàng năm là con hồi máu của làn.

Làn 4 quy tụ Synthhog, Cheerlet và Azurion. Làn 5 quy tụ Voltling và Zapooch.

Những ô mạnh là nơi sát thương đến: Serrabloom, bóng phân của Humbleetle, giấc ngủ của Ripplewing, thiêu đốt của Azurion và sương của Tideon. Ô sư tử và ô hươu góp thêm đẩy lùi và tê liệt.

Có lúc Charflutter được đặt vào chỗ Cheerlet, Zapantler từng thay Zapooch, Blitzmane từng thay Zappur, Flarevix từng thay Synthhog.

Mở trang màn 21-40 →

Màn 21-50

10 đội hình · Level đề xuất: 368–442

Ghi chú về màn 21-50

21-50 là màn trùm ở cấp 369 mà người chơi thấy dễ. Một người cấp 368, võ đường 4-3-3-3-3, gọi đây là con trùm dễ, qua ngay lần đầu. Cũng có bản thay thế dùng ếch T3 với cáo T2.

Đội hình 1 biến làn 1 thành làn lửa với chú hổ ở cuối: Pyrohound ở hàng hai, Pyroprawn, rồi Kitjitsu. Cú đấm của Pyroprawn đôi khi gây thiêu đốt, nên chú hổ phía sau có quái đang cháy để lao vào và hồi máu.

Làn 3 sâu nhất: Sparkdoe đứng đầu, Trippet, Waveflutter và Boltskipper. Waveflutter kẹp giữa bào tử và quả cầu trói của Boltskipper, nên cả hai đều có thể mang theo làm chậm và ngủ. Làn thứ tư là Clawzor, Charflutter và Azurion, xé rách của Clawzor ở đầu và con bướm đêm T3 hồi máu phía sau. Làn thứ hai gồm Rockwu, Cheerlet và Tideon. Làn thứ năm là Capobeetle và Frugagon ở hàng ba và bốn.

Một người chơi khác, cấp 364 với cùng mức võ đường, đã qua chuỗi màn này bằng một bản được chia sẻ.

Về bố cục, Cobbledon hoặc Turtuff từng thay Tideon, Frostique từng thay Clawzor, Serrabloom hoặc Stalkerix từng thay Capobeetle, Firecoil từng thay Charflutter.

Mở trang màn 21-50 →

Màn 21-60

10 đội hình · Level đề xuất: 366–420

Ghi chú về màn 21-60

21-60 (cấp 415) cho bốn làn bắt đầu từ hàng đầu và giữ chúng ngắn. Làn 5 dài nhất: Voltling, Surgehoof, Tideon và Frostique. Voltling gây tê liệt, sóng xung kích của Surgehoof bắn toé nhiều hơn khi trúng quái hệ nước, sương của Tideon làm chậm và thêm dễ vỡ ngay trước khi mảnh băng của Frostique rơi xuống.

Làn 4 toàn hệ sét: Blitzmane, Boltskipper và Zapantler. Sĩ khí của sư tử tăng sức cho quả cầu trói và ngọn giáo xuyên mãi phía sau. Làn 3 xếp Serrabloom, Rockwu và Turtuff, ba hộ vệ. Ở làn 2 có Rockzilla, Capobeetle và Waveflutter.

Về bố cục, làn 1 là làn lửa nhưng ra quân muộn: Flarevix ở hàng hai và Azurion phía sau, hai tay đánh không có ai phía trước.

Theo lưới, một người chơi cấp 364, võ đường 4-3-3-3-3, đã dựng lần qua màn của mình từ một bản phổ biến, người khác thì thử bản thay thế với ếch T3 và chó điện T2.

Cheerspring ba lần thay Boltskipper, đưa một con hồi máu vào làn sét. Synthhog đã có lúc thay chỗ Turtuff hoặc Surgehoof, Pyrohound từng thay Flarevix, Charflutter, Lickflicker hoặc Solaflora từng thay Rockzilla.

Mở trang màn 21-60 →

Màn 21-70

10 đội hình · Level đề xuất: 367–440

Ghi chú về màn 21-70

21-70, được ghi ở cấp 410, ghi sư tử, hươu và khỉ bằng tên dạng gốc. Làn số 1 là Zappur và Voltfawn ở hàng ba và bốn, đẩy lùi trước một ngọn giáo gây tê liệt. Làn 5 được xếp Turtuff, Punchimp và Rattlecoil, chú khỉ kẹp giữa một hộ vệ và loạt sóng gây choáng.

Sức mạnh nằm ở giữa. Làn 3 được xếp Swaystroll, Frostique, Capypapa và Waveflutter, con bướm ngay sau con hồi máu. Làn 2 được xếp Serrabloom và Charflutter, rồi Tideon cách hai hàng. Làn 4 được xếp Pyrohound, Cheerlet và Azurion.

Một người chơi cấp 364, võ đường 4-3-3-3-3, kể đã chỉnh vài chỗ từ một bản được chia sẻ.

Nhìn lưới, làn 1 là làn yếu. Hai con không có hồi máu, không có hộ vệ mà phải giữ cả một làn, và đòn đẩy lùi là thứ câu giờ cho chúng.

Cheerspring hai lần thay Cheerlet. Có lúc Trippet được đặt vào chỗ Swaystroll, Lickflicker từng thay Pyrohound, Stalkerix từng thay Serrabloom, Capywata từng thay Capypapa, Gibber từng thay Turtuff, Zenscarab từng thay Punchimp.

Mở trang màn 21-70 →

Màn 21-80

10 đội hình · Level đề xuất: 369–451

Ghi chú về màn 21-80

21-80 là trùm của chương ở cấp 391, và người chơi kể những pha về đích sát nút. Một người thắng khi còn 0 giây, người khác thắng khi còn bốn giây sau khi chỉnh đi chỉnh lại một bản cho tới khi chạy. Một người cấp 376 nói vận may phụ thuộc vào con xác sống cỏ nhảy làn.

Cách sửa thiếu sát thương được nhắc nhiều lần. Một người dùng con cáo thay cho sóc chuột và hụt chút xíu sát thương, người khác dùng kỳ nhông lửa ở làn một vì con cáo không đủ sát thương ở đó. Những cách khác là đổi cây nấm ở giữa lấy Jarachnid, hoặc thay con thỏ T3 bằng cỏ mèo.

Đội hình 1 cho làn 3 bắt đầu từ hàng đầu với Serrabloom, rồi sau một ô trống là Cheerlet, Pandaroot và Cactobloom. Tre của Pandaroot làm chậm và lớn dần, các tầng chích của Cactobloom phát nổ lan khắp đám quái đã chậm.

Làn thứ tư là Turtuff, Blitzmane, Rockwu và Solaflora. Làn thứ năm gồm Ospisces, Firecoil và Capypapa. Làn thứ hai là Bubbit, Waveflutter và Flametail. Làn 1 có Azurion ở hàng bốn.

Từng có lượt dùng Frostique thay Capypapa.

Mở trang màn 21-80 →

Đội hình được đánh số theo thứ tự hiển thị ở trên, tính từ trái sang phải, từ trên xuống.

Đội hình được chọn lọc từ cộng đồng và chạy thử trước khi đăng · Hình: Clash of Critters Wiki