Màn
19-10
Level đề xuất
321
▲ Phía quân địch
8 màn · 72 đội hình
Cấp đề xuất ở chương 19 gần như không xê dịch, đa số màn là 383, hai màn cuối là 390, nhưng bản thân các màn lại kéo về những hướng khác nhau. 19-10 vướng ở hệ sét chứ không phải cả đội, 19-30 đưa vào một lúc bốn con mới, 19-40 trông vào may rủi nhiều hơn hẳn, còn trùm 19-50 dễ tới mức có lần nó tan chảy trong vài giây ở làn xương rồng. 19-70 mở làn 5 ngay từ hàng 1 với chỉ một mình Swaystroll trên đó. Ở trùm 19-80, con quái bơm nước khiến làn bên trái thành làn khó.
Trụ cột ở đây là Rockwu, Waveflutter và Tideon, còn Zapantler, Stalkerix, Ignisnap, Trippet, Frugatoad, Flarevix và Frostique thay nhau xoay quanh. Đáng để mắt nhất là Zapantler: ở 19-10 cách sửa chỉ là dời con nai lên cho lọt vào vùng tăng sức của Cheerlet, còn ở 19-20 cặp này đứng riêng ở cuối làn 2, nên chỉ mình ngọn giáo phải cản mọi thứ đang lừ lừ tiến về phía con hồi máu. Bướm T3 tạo khác biệt lớn ở 19-40. Tin vui là 19-60 qua được dù không có nai T3 hay Charflutter T3, miễn chịu đánh lại vài lần; trùm ở đó thì thử cho cây nấm vào chỗ con gà.
Rockwu
Frostique
Azurion
Blitzmane
Waveflutter8 đội hình · Level đề xuất: 321–394
Màn
19-10
Level đề xuất
321
▲ Phía quân địch
Màn
19-10
Level đề xuất
337
▲ Phía quân địch
Màn
19-10
Level đề xuất
356
▲ Phía quân địch
Màn
19-10
Level đề xuất
361
▲ Phía quân địch
Màn
19-10
Level đề xuất
379
▲ Phía quân địch
Màn
19-10
Level đề xuất
383
▲ Phía quân địch
Màn
19-10
Level đề xuất
394
▲ Phía quân địch
Màn
19-10
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
19-10 (cấp 383) có vấn đề với hệ sét, và những người gặp khó đều kể các làn khác ổn. Cách sửa được nhắc tới là đẩy con hươu lên trong tầm hiệu ứng của Cheerlet, và có khi phải thử vài lần.
Trong Đội hình 1, con hươu là Zapantler ở cuối làn 5, sau Cobbledon và Cheerlet. Điệu nhảy của Cheerlet hồi máu và tăng công lẫn thủ cho đồng đội gần đó, nên vị trí của Zapantler quyết định ngọn giáo xuyên mãi của nó có được tăng sức hay không.
Làn 2 sâu nhất: Stalkerix ở hàng hai, Rockwu, Pandaroot và Frugatoad. Thành phần làn 1: Kitjitsu, Waveflutter và Tideon, Waveflutter ngay sau chú hổ. Làn 4 bao gồm Electroar, Trippet và Frostique. Làn số 3 có Ignisnap và Flarevix, một cặp lửa cách nhau một ô.
Một người chơi vượt cấp rất xa đã chia sẻ bản của mình và nói có khi nó gợi ý được gì đó dù không hợp cấp của bạn.
Có lần Flametail được dùng thay Tideon, Azurion hoặc Capypapa từng thay Waveflutter, Zapooch từng thay Zapantler, Frugagon từng thay Frugatoad.
7 đội hình · Level đề xuất: 329–383
Màn
19-20
Level đề xuất
329
▲ Phía quân địch
Màn
19-20
Level đề xuất
341
▲ Phía quân địch
Màn
19-20
Level đề xuất
356
▲ Phía quân địch
Màn
19-20
Level đề xuất
363
▲ Phía quân địch
Màn
19-20
Level đề xuất
367
▲ Phía quân địch
Màn
19-20
Level đề xuất
383
▲ Phía quân địch
Màn
19-20
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
19-20, được ghi ở cấp 383, giữ Zapantler sau Cheerlet, nhưng chuyển sang làn 2, nơi có hai con đó ở hàng bốn và năm. Cặp này không có tuyến đầu, nên ngọn giáo của con hươu phải chặn quái trước khi chúng chạm tới con hồi máu.
Hellhound ở làn 5, hàng bốn, sau Ospisces và trước Flarevix. Ospisces kéo quái dồn lại và chồng suy yếu thuỷ triều khi kéo được nhiều con, lửa của Hellhound thêm suy yếu, còn lửa nở của Flarevix rơi giữa đám đông.
Nhìn lưới, làn 3 là làn dài: Stalkerix ở hàng hai, Cluckeroo, Trippet và Ignisnap. Làn số 1 là Frostique, Tideon và Waveflutter, ba con hệ nước, có sát thương lẫn hỗ trợ nhưng không có hộ vệ. Làn số 4 là Capobeetle, Frugatoad và Rockwu.
Một người chơi cấp 355, võ đường 4-3-3-3-3, đã qua chuỗi màn này bằng một bản được chia sẻ.
Swaystroll hai lần thay Tideon, Turtuff hai lần thay Frugatoad. Có lần Blitzmane được dùng thay Cheerlet, Cobbledon từng thay Frugatoad.
10 đội hình · Level đề xuất: 342–384
Màn
19-30
Level đề xuất
342
▲ Phía quân địch
Màn
19-30
Level đề xuất
357
▲ Phía quân địch
Màn
19-30
Level đề xuất
358
▲ Phía quân địch
Màn
19-30
Level đề xuất
365
▲ Phía quân địch
Màn
19-30
Level đề xuất
383
▲ Phía quân địch
Màn
19-30
Level đề xuất
384
▲ Phía quân địch
Màn
19-30
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
Màn
19-30
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
Màn
19-30
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
Màn
19-30
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
19-30 mang tới bốn con mới, và một người chơi cấp 355, võ đường 4-3-3-3-3, kể mấy màn cuối của chuỗi rất sát nút, thắng được vì vượt cấp.
Tại màn này, làn 3 là làn lửa mới từ hàng hai: Hellhound, Sizzribb, Charflutter và Tideon. Sizzribb, bản T2 của Poakie, là hộ vệ phun lửa gây thiêu đốt, đôi khi phun liên tục không dứt, rồi tiêu thiêu đốt trên mục tiêu để tung đòn tiếp theo. Charflutter, bản T3 của Ashlarva, hồi máu bằng vòng lửa gây sát thương diện rộng lớn và tăng công.
Làn 5 cũng mới: Rockshell, Cheerspring và Gemsnail. Mai xoay của Rockshell cho khiên mai rùa với mọi đồng đội nó bay qua. Cheerspring là bản T3 của Cheerling. Gemsnail gọi một cụm pha lê lúc vào trận và phóng mảnh pha lê cộng hưởng khi bay qua.
Trong làn 2 là Rockzilla, Rockwu và Frugagon. Làn số 4 có Blitzmane, Surgehoof và Sparkdoe. Làn số 1 là Frostique và Waveflutter.
Cũng có bản thay thế cho ai chưa có bản T3 của Ignisnap. Cheerlet bốn lần thay Surgehoof, Swaystroll hai lần thay Waveflutter, Turtuff hai lần thay Rockzilla.
10 đội hình · Level đề xuất: 342–405
Màn
19-40
Level đề xuất
342
▲ Phía quân địch
Màn
19-40
Level đề xuất
357
▲ Phía quân địch
Màn
19-40
Level đề xuất
362
▲ Phía quân địch
Màn
19-40
Level đề xuất
372
▲ Phía quân địch
Màn
19-40
Level đề xuất
383
▲ Phía quân địch
Màn
19-40
Level đề xuất
385
▲ Phía quân địch
Màn
19-40
Level đề xuất
387
▲ Phía quân địch
Màn
19-40
Level đề xuất
393
▲ Phía quân địch
Màn
19-40
Level đề xuất
405
▲ Phía quân địch
Màn
19-40
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
19-40, màn cấp 383, phụ thuộc rất nhiều vào vận may, và người chơi nói thẳng như vậy. Một người làm cho chạy được nhưng phải thử lại vài lần, người khác kẹt mãi và không chắc mình đủ sát thương sét, còn bướm T3 thì được gọi là thứ thay đổi cục diện.
Hệ sét nằm ở làn 3: Electroar ở hàng hai, Surgehoof, Zapantler và Waveflutter ở cuối. Sóng cung của Electroar đẩy lùi quái, Surgehoof bắn toé, giáo của Zapantler đôi khi xuyên mãi. Waveflutter ngay sau con hươu giúp những đòn xuyên đó mang theo làm chậm và ngủ.
Cụ thể, làn 1 là làn chú hổ: Kitjitsu, Firecoil và Flarevix. Firecoil hồi máu cho chú hổ ngay từ phía sau. Làn số 2 là Rockwu, Trippet và Tideon. Làn số 5 là Stalkerix, Solaflora và Frugatoad. Làn số 4 có Cheerlet ở hàng ba và Ignisnap ở cuối, cách một ô.
Về bố cục, làn 4 là làn mỏng. Cheerlet đứng đầu mà không có hộ vệ phía trước, còn thiêu đốt của Ignisnap gánh sát thương cho cả làn.
Trong đội hình này, Frugagon hoặc Frostluna từng thay Ignisnap, Turtuff từng thay Trippet.
10 đội hình · Level đề xuất: 340–388
Màn
19-50
Level đề xuất
340
▲ Phía quân địch
Màn
19-50
Level đề xuất
342
▲ Phía quân địch
Màn
19-50
Level đề xuất
357
▲ Phía quân địch
Màn
19-50
Level đề xuất
368
▲ Phía quân địch
Màn
19-50
Level đề xuất
370
▲ Phía quân địch
Màn
19-50
Level đề xuất
378
▲ Phía quân địch
Màn
19-50
Level đề xuất
383
▲ Phía quân địch
Màn
19-50
Level đề xuất
388
▲ Phía quân địch
Màn
19-50
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
Màn
19-50
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
19-50 (cấp 383) có một con trùm người chơi thấy dễ. Một người kể nó xuất hiện ở làn xương rồng và tan chảy trong vài giây, gọi đây là con trùm dễ nhất từng gặp, người khác thì qua nhẹ nhàng dù cả con ếch lẫn cây nấm đều mới T1.
Đội hình 1 cho mọi làn bắt đầu từ hàng ba, sâu ba ô. Làn thứ nhất là Firecoil, Trippet và Flarevix: vòng lửa hồi máu và tăng công, bào tử thêm tốc đánh, Flarevix phía sau bắn nhanh hơn nhờ cả hai. Làn thứ ba là Stalkerix, Capobeetle và Frugatoad, làn của con ếch, cú lao gây dễ vỡ của Capobeetle ngay sau bọ ngựa.
Làn thứ năm là Ospisces, Solaflora và Waveflutter. Ospisces kéo quái vào xoáy nước, Solaflora hồi máu và tăng sức từ giữa, Waveflutter ngồi ngay sau nó, nên hạt của Solaflora có thể gây làm chậm và ngủ. Làn thứ tư là Cheerlet, Rockwu và Zapantler. Làn thứ hai là Ignisnap, Frostique và Tideon.
Một người chơi cấp 355, võ đường 4-3-3-3-3, đã qua phần đầu chuỗi màn này bằng một bản được chia sẻ.
Frugagon hai lần thay Frugatoad. Theo lưới, Boldclaw hoặc Cluckeroo từng thay Ignisnap, Sparkdoe, Rockzilla hoặc Seaswirl từng thay Zapantler, Cheerspring từng thay Cheerlet, Azurion từng thay Flarevix.
9 đội hình · Level đề xuất: 342–392
Màn
19-60
Level đề xuất
342
▲ Phía quân địch
Màn
19-60
Level đề xuất
343
▲ Phía quân địch
Màn
19-60
Level đề xuất
346
▲ Phía quân địch
Màn
19-60
Level đề xuất
370
▲ Phía quân địch
Màn
19-60
Level đề xuất
383
▲ Phía quân địch
Màn
19-60
Level đề xuất
388
▲ Phía quân địch
Màn
19-60
Level đề xuất
392
▲ Phía quân địch
Màn
19-60
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
Màn
19-60
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
19-60, màn cấp 383, qua được dù chưa có hươu T3 hay Charflutter T3, người chơi kể vậy, miễn là chịu thử lại. Nếu trùm không chết, có người gợi ý dùng cây nấm thay cho con gà. Một người khác nói nhìn thấy mỗi con bọ ngựa đứng đó mà mừng vì bọ ngựa của mình đã T3.
Làn 1 là chỗ thấy rõ điều đó. Stalkerix dẫn từ hàng hai, rồi Capobeetle, Nimbuzzy và Frugatoad. Mây đen của Nimbuzzy gây tê liệt, có cú lao dễ vỡ của Capobeetle phía trước, bọ ngựa một mình giữ cả một làn quái đã dính đủ hiệu ứng bất lợi.
Làn thứ tư là Zapooch, Rockwu và Waveflutter sau một ô trống. Làn thứ hai gồm Frostique, Cheerlet và Zapantler, con hồi máu kẹp giữa băng và hươu. Làn thứ ba là Electroar, Synthhog và Tideon, toàn làm mềm: đẩy lùi, trinh sát và dễ vỡ, rồi sương của Tideon.
Làn thứ năm gồm Ignisnap và Flarevix ở hàng bốn và năm, phía trước trống trơn. Cặp này là sát thương về cuối trận của cả bàn, có gì lọt qua thì là ở đó.
Turtuff từng thay Zapooch, Snowcub hoặc Snoozebo từng thay Zapantler.
8 đội hình · Level đề xuất: 342–394
Màn
19-70
Level đề xuất
342
▲ Phía quân địch
Màn
19-70
Level đề xuất
343
▲ Phía quân địch
Màn
19-70
Level đề xuất
346
▲ Phía quân địch
Màn
19-70
Level đề xuất
370
▲ Phía quân địch
Màn
19-70
Level đề xuất
388
▲ Phía quân địch
Màn
19-70
Level đề xuất
390
▲ Phía quân địch
Màn
19-70
Level đề xuất
394
▲ Phía quân địch
Màn
19-70
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
19-70, ở cấp 390, cho làn 5 bắt đầu ngay hàng đầu tiên với Swaystroll, còn Frostique chờ sau ba hàng. Khiên băng của Swaystroll tích lực trong lúc trụ, khi vỡ thì lượng băng tích được bung ra thành sát thương diện rộng, nên trụ càng lâu càng có lợi.
Ở giữa có hai làn sâu bốn ô. Làn thứ hai là Rockwu, Cheerspring, Trippet và Tideon. Cheerspring là bản T3 của Cheerling, giữ nguyên điệu nhảy của Cheerlet: hồi máu, tăng công lẫn thủ, và bất tử lần đầu đồng đội gần đó gặp nguy. Nhờ vậy bào tử của Trippet có rút máu thì làn không gãy.
Làn thứ ba là Synthhog, Surgehoof, Zapantler và Waveflutter, toàn hệ sét trừ con bướm, ngồi ngay sau con hươu. Làn thứ nhất là Turtuff, Capobeetle và Humbleetle.
Làn thứ tư là Firecoil và Ignisnap ở hàng bốn và năm, một con hồi máu và một nguồn thiêu đốt không có ai che chắn.
Một người chơi cấp 355, võ đường 4-3-3-3-3, đã qua chuỗi màn này bằng một bản được chia sẻ.
Từng có lượt dùng Cheerlet thay Cheerspring, Blitzmane từng thay Synthhog, Cobbledon từng thay Trippet, Boltskipper từng thay Capobeetle.
10 đội hình · Level đề xuất: 342–400
Màn
19-80
Level đề xuất
342
▲ Phía quân địch
Màn
19-80
Level đề xuất
343
▲ Phía quân địch
Màn
19-80
Level đề xuất
369
▲ Phía quân địch
Màn
19-80
Level đề xuất
376
▲ Phía quân địch
Màn
19-80
Level đề xuất
382
▲ Phía quân địch
Màn
19-80
Level đề xuất
386
▲ Phía quân địch
Màn
19-80
Level đề xuất
390
▲ Phía quân địch
Màn
19-80
Level đề xuất
394
▲ Phía quân địch
Màn
19-80
Level đề xuất
400
▲ Phía quân địch
Màn
19-80
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
19-80 là trùm của chương ở cấp 390, và làn trái là làn khó vì con quái vòi bơm nước. Người chơi báo đã qua ở cấp 376, mọi võ đường từ cấp 3 trở lên, và ở cấp 419. Có người chia sẻ bản thay thế cho ai chưa có bướm và cái con thú nhỏ hệ nước kia ở T3.
Trong Đội hình 1, làn trái là Cobbledon ở hàng ba với Zapantler cách hai hàng phía sau, ở giữa không có gì. Đó là câu trả lời khá mỏng trước con vòi bơm nước, nên đây là làn khiến người ta chật vật.
Tại màn này, làn 3 là làn nước đầy đủ: Swaystroll ở hàng hai, Waveflutter, Trippet và Tideon. Waveflutter ngay sau con đỡ đòn, nên pha lê băng của Swaystroll có thể gây làm chậm và ngủ, còn bào tử của Trippet tăng tốc cho cả làn.
Đứng ở làn 2 là Stalkerix, Cheerspring và Rockwu. Ở làn 4 có Electroar, Surgehoof và Synthhog. Làn thứ năm là Ignisnap, Frugatoad và Flarevix.
Frostique hai lần thay Trippet. Có lần Turtuff được dùng thay Cobbledon, một cách cho làn trái có tuyến đầu cứng cáp hơn, Blitzmane từng thay Electroar.
Đội hình được đánh số theo thứ tự hiển thị ở trên, tính từ trái sang phải, từ trên xuống.
Đội hình được chọn lọc từ cộng đồng và chạy thử trước khi đăng · Hình: Clash of Critters Wiki