Bỏ qua, tới nội dung chính
← Tất cả màn

Đội hình chương 18: màn 18-10 đến 18-80

8 màn · 73 đội hình

Điều làm chương 18 khác đi là nhiều bàn đầu chương giữ cả đội tránh xa hàng trước. 18-10 và 18-20 bỏ trống hàng 1 ở cả năm làn, còn 18-30 làm ngược lại, trải một bàn phẳng, làn nào cũng ba con tính từ hàng 1, chẳng làn nào dài hơn, cũng chẳng làn nào bỏ không. Cấp đề xuất dao động trong khoảng 318 tới 380. Con trùm xác ướp ở 18-40 là trận được nhắc nhiều nhất, mẹo là dụ nó ra đúng làn đặt Manteeny và Frugling bản tiến hoá, mà việc này có khi mất vài lượt. 18-70 có đám quái thổi kèn trâu tới mức giữ làn qua cả giới hạn thời gian.

Bộ khung quen thuộc gồm Cheerlet, Rockwu, Frostique, Blitzmane và Azurion, Turtuff, Frugagon và Waveflutter theo sát. Ô của Waveflutter ở 18-60, hàng 3 làn 3 giữa Swaystroll và Capypapa, là chỗ phải tính nếu bạn thiếu con bướm T3, vì giấc ngủ của nó lan sang các con bên cạnh ở đó. Ở 18-70, lời giải là sát thương chứ không phải trụ lâu. Trùm 18-80 là nơi đội chép lại cần sửa nhiều nhất; có người phải thay Goonbug vì chưa có bản T2. Ở chương này cứ coi đội người khác chia sẻ là điểm xuất phát rồi chỉnh theo những gì mình có.

Tóm tắt

Level đề xuất
293–382
Tatari xuất hiện nhiều nhất
  • Frostique
  • Rockwu
  • Cheerlet
  • Blitzmane
  • Azurion

VD: 12-40

Màn 18-10

7 đội hình · Level đề xuất: 293–351

Ghi chú về màn 18-10

18-10 ở cấp 327 cho mọi làn bắt đầu từ hàng hai trở về sau. Một người chơi cấp 349, võ đường 4-3-3-3-3, đã qua bằng một bản được chia sẻ.

Làn 3 là làn nước và là làn ở hàng hai: Swaystroll, Tideon, Trippet và Waveflutter. Sương của Tideon làm chậm và gây dễ vỡ, bào tử của Trippet tăng tốc đánh cho cả làn, còn Waveflutter ở cuối ngồi ngay sau Trippet, nên bào tử có thể mang theo làm chậm và ngủ.

Làn 4 là làn lửa không có hộ vệ: Kitjitsu, Ignisnap và Frostique. Thiêu đốt của Ignisnap ở ngay sau chú hổ, nhờ vậy nó mới lao lên và hồi máu được.

Làn 5 là Cobbledon, Turtuff và Rockwu. Làn 1 là Electroar, Cheerlet và Zapantler. Làn 2 là Frugatoad và Flarevix ở hàng bốn và năm.

Làn 2 hoàn toàn không có tuyến đầu, nên hãy để ý từ sớm. Quả gai của Frugatoad và lửa nở của Flarevix phải dọn sạch trước khi quái tới nơi.

Rockzilla hoặc Pyrohound từng thay Ignisnap, Flametail từng thay Cobbledon, Humbleetle từng thay Turtuff.

Mở trang màn 18-10 →

Màn 18-20

8 đội hình · Level đề xuất: 311–352

Ghi chú về màn 18-20

18-20 (cấp 328) cho mọi làn bắt đầu từ hàng hai. Với màn này, một người chơi cấp 349, võ đường 4-3-3-3-3, đã qua bằng một bản được chia sẻ, và trong một lượt chơi, chính đội hình đó còn qua tiếp 18-24 và 18-25 sau khi đổi chỗ Frostnip và Voltfawn.

Làn 3 dài nhất: Stalkerix, Frugagon, Synthhog và Cactobloom. Synthhog đánh dấu trinh sát và dễ vỡ trên diện rộng, còn các tầng chích của Cactobloom phát nổ khi quái bị chích chết, nên hiệu ứng bất lợi và chuỗi nổ tiếp sức cho nhau.

Thành phần làn 2: Rockzilla, Trippet và Turtuff, hai hộ vệ cùng hưởng bào tử. Làn 1 bao gồm Blitzmane, Sparkdoe và Capypapa. Làn 4 khá lạ: Frostique dẫn đầu, Cheerlet và Azurion phía sau.

Làn 5 bao gồm Voltling và Rockwu, hai hộ vệ không có tay đánh nào phía sau. Đòn bóng tối của Voltling gây tê liệt, bản sao của Rockwu gánh phần sát thương.

Tại màn này, Ospisces hoặc Zapooch từng thay Capypapa, Swaystroll từng thay Voltling.

Mở trang màn 18-20 →

Màn 18-30

10 đội hình · Level đề xuất: 311–356

Ghi chú về màn 18-30

18-30, được ghi ở cấp 328, là một bàn cờ phẳng. Mọi làn đều bắt đầu từ hàng đầu và sâu ba ô, nên không có làn dài cũng chẳng có làn trống. Nhìn lưới, một người chơi cấp 349, võ đường 4-3-3-3-3, đã qua bằng một bản được chia sẻ.

Kiểu xếp đó buộc mỗi làn phải tự đứng vững. Tại làn 1 là Blitzmane, Sparkdoe và Surgehoof, toàn hệ sét. Đội hình làn 2: Swaystroll, Firecoil và Azurion, con hồi máu ở giữa. Làn số 3 là Stalkerix, Frugagon và Bubbit. Nhìn sang làn 4: Turtuff, Cheerlet và Rockwu.

Làn 5 là chỗ của Sealoon ở giữa. Bóng nảy của nó bật qua lại giữa đám quái và gây suy yếu, giảm lượng sát thương dồn lên Voltling ở đầu làn trong khi Frostique làm chậm từ phía sau. Thêm tê liệt của Voltling, làn này thiên về phòng thủ hơn là gây sát thương.

Về cách xếp, làn 1 là làn không có gì hồi máu, nên nếu có làn gãy sớm thì nhiều khả năng là nó.

Ở bàn này, Ospisces hai lần thay Sealoon, Cobbledon hai lần thay Firecoil, Jarachnid từng thay Rockwu.

Mở trang màn 18-30 →

Màn 18-40

9 đội hình · Level đề xuất: 311–356

Ghi chú về màn 18-40

18-40 ở cấp 344 được nhớ tới vì con trùm. Người chơi gọi con trùm pha-ra-ông, tức xác ướp, là phần khó nhất chương 18, và mẹo là làm sao cho nó xuất hiện ở làn có Manteeny và Frugling đã tiến hoá, có khi phải thử vài lượt. Một người vừa chạy xong từ chương 17 tới 19 trong một ngày kể chính đội hình này đã đưa họ tới đó.

Trong Đội hình 1, hai con đó đứng cạnh nhau ở làn 3 và làn 4. Serrabloom, bản T3 của Manteeny, dẫn làn 3 từ hàng ba với Rockwu và Cluckeroo phía sau. Nó đánh liên tục gây sát thương diện rộng và còn gây dễ vỡ, nên mỗi đòn đều làm mềm con trùm cho bản sao của chú khỉ.

Làn 4 sâu nhất: Blitzmane ở hàng hai, Frugagon, Cheerlet và Sparkdoe. Làn 1 là Pyrohound, Goonbug và Azurion. Làn 2 là Kitjitsu, Flametail và Waveflutter. Làn 5 là Boldclaw và Frostique.

Swaystroll ba lần thay Boldclaw, Turtuff hoặc Ospisces cũng từng vào ô đó. Ignisnap từng thay Flametail, Sizzribb từng thay Goonbug, Firecoil từng thay Kitjitsu, Solaflora từng thay Cluckeroo, Lollama từng thay Sparkdoe.

Mở trang màn 18-40 →

Màn 18-50

10 đội hình · Level đề xuất: 311–373

Ghi chú về màn 18-50

18-50, ở cấp 325, đặt một làn sét ở giữa: Zapooch ở hàng hai, Sparkdoe, Surgehoof và Bubbit. Zapooch đánh sét dây chuyền, giáo của Sparkdoe gây tê liệt, sóng xung kích của Surgehoof bắn toé nhiều hơn khi trúng quái hệ nước, còn sương của Bubbit thêm làm chậm và dễ vỡ ở cuối.

Solaflora là con hồi máu ở làn 4, giữa Frugagon và Waveflutter. Nắng của nó hồi máu và tăng công lẫn thủ, hạt của nó trúng đâu thêm nắng đó. Có Waveflutter ngay phía sau, những hạt đó còn có thể gây làm chậm và ngủ.

Trong làn 1 là Cobbledon, Synthhog và Turtuff. Xếp ở làn 2 là Blitzmane, Cheerlet và Rockwu. Ở làn 5 là Sealoon và Azurion ở hàng bốn và năm, không có tuyến đầu.

Trong đội hình này, một người chơi cấp 349 với võ đường 4-3-3-3-3 đã vượt qua nhờ một đội hình được chia sẻ.

Tideon đã có lúc thay chỗ Azurion hoặc Sealoon, Frostique từng thay Bubbit, Stalkerix từng thay Solaflora, Rockhog từng thay Rockwu, Gemsnail từng thay Cobbledon, Boltskipper từng thay Surgehoof, Voltling từng thay Blitzmane.

Mở trang màn 18-50 →

Màn 18-60

10 đội hình · Level đề xuất: 318–373

Ghi chú về màn 18-60

18-60 (cấp 318) cho mọi làn bắt đầu từ hàng đầu, và có người chơi hỏi xin giúp vì chưa có bướm T3. Đó chính là ô cần cân nhắc: Waveflutter ở hàng ba làn 3, sau Swaystroll và Frostique, trước Capypapa.

Đặt ở đó, nó sát bên cả băng lẫn con hồi máu, nên mảnh băng của Frostique và viên đạn chua của Capypapa đều có thể mang theo làm chậm và ngủ của nó. Không có nó, làn 3 mất phần lớn khả năng khống chế. Ripplewing hai lần thay vào chỗ này, giữ được làm chậm và ngủ trên bom của chính nó nhưng không có hiệu ứng chia cho đồng đội.

Về bố cục, làn 5 là làn đá đủ bộ: Cobbledon, Turtuff và Humbleetle. Làn thứ tư là Jarachnid, Cheerlet và Azurion. Làn thứ hai là Blitzmane, Rockwu và Tideon. Làn thứ nhất là Goonbug và Stalkerix.

Một bản được chia sẻ đã giúp người chơi cấp 349 có võ đường 4-3-3-3-3 vượt qua bàn này.

Rattlecoil hai lần thay Humbleetle. Bubbit đã có lúc thay chỗ Goonbug hoặc Tideon, Flametail hoặc Sparkdoe cũng từng thay Tideon, Gemsnail từng thay Turtuff, Rockzilla từng thay Cobbledon.

Mở trang màn 18-60 →

Màn 18-70

9 đội hình · Level đề xuất: 318–357

Ghi chú về màn 18-70

18-70, màn cấp 318, có một làn không chịu chết. Một người chơi hỏi sao bọn lính kèn nhiều máu thế, kể là họ hạ được trùm rồi mà chưa dọn xong làn đó trong thời gian cho phép.

Vậy vấn đề nằm ở sát thương. Làn 3 là làn cỏ từ hàng hai: Cactobloom, Frugagon, Stalkerix và Waveflutter. Các tầng chích của Cactobloom phát nổ khi quái bị chích chết, rất hợp đánh đám đông nhưng khởi động chậm với quái trâu máu.

Làn 4 là làn lửa: Pyrohound, Firecoil, Cheerlet và Azurion, hai con hồi máu kẹp giữa cột lửa và thiêu đốt. Làn thứ nhất gồm Blitzmane, Maskfry và Sparkdoe, kéo quái về trước ngọn giáo xuyên thấu. Làn thứ hai gồm Rockwu, Tideon cách hai hàng. Làn thứ năm gồm Swaystroll và Frostique.

Một người chơi cấp 321, võ đường 3-3-4-3-3, đã qua với sư tử, khỉ và bướm ở T3, hươu ở T2.

Clawzor hai lần thay Pyrohound. Cobbledon hoặc Rockzilla từng thay Tideon, Slobberlama từng thay Cactobloom, Ospisces hoặc Boldclaw từng thay Maskfry, Electroar từng thay Swaystroll, Ripplewing từng thay Waveflutter.

Mở trang màn 18-70 →

Màn 18-80

10 đội hình · Level đề xuất: 318–382

Ghi chú về màn 18-80

18-80 là trùm của chương ở cấp 380, và người chơi thấy đội hình chép về phải chỉnh. Một người kể đã chép một bản phổ biến nhưng phải đổi mấy con Goonbug vì chưa có bản T2, người khác thì ngạc nhiên khi vài bản chia sẻ không chạy dù cấp mình cao hơn.

Trong Đội hình 1, dòng Goonbug là Capobeetle, ở hàng bốn làn 1 sau Stalkerix và Cluckeroo. Cú lao của nó thêm dễ vỡ, và Goonbug từng thay vào chỗ này, đúng bước lùi mà những người chưa có T2 đã dùng.

Trong lưới được ghi, làn 4 là làn dài: Pyrohound, Cheerlet, Frugagon và Azurion. Làn số 5 là Cobbledon, Turtuff và Humbleetle. Làn số 3 là Blitzmane, Frostique và Ripplewing, toàn khống chế. Làn số 2 là Rockwu và Bubbit ở hàng ba và bốn.

Nhìn lưới, làn 2 là làn nhẹ ký. Sparkdoe ba lần thay Bubbit, Tideon hai lần, cho thấy người chơi muốn thêm sức ở đó. Firecoil ba lần thay Pyrohound.

Frugatoad đã có lúc thay chỗ Cluckeroo, Jarachnid từng thay Capobeetle, Zapantler từng thay Bubbit, Ospisces từng thay Ripplewing.

Mở trang màn 18-80 →

Đội hình được đánh số theo thứ tự hiển thị ở trên, tính từ trái sang phải, từ trên xuống.

Đội hình được chọn lọc từ cộng đồng và chạy thử trước khi đăng · Hình: Clash of Critters Wiki