Bỏ qua, tới nội dung chính
← Tất cả màn

Đội hình chương 14: màn 14-10 đến 14-80

8 màn · 65 đội hình

Màn đầu chương 14 là một bức tường đúng nghĩa: người chơi cấp 243, võ đường nào cũng cấp 3, vẫn không qua nổi, có người còn thấy hai làn đang chật vật đều cần tới bốn con mỗi làn. Sau đó chương này liên tục đổi hình bàn. 14-11 cho Solaflora, một con hồi máu, đứng đầu làn 1; 14-20 dựng làn giữa nặng hệ sét; 14-40 chạy một cột cỏ dài năm hàng; 14-50 lùi phần lớn các làn về hàng 3; còn 14-60 đưa Scorchwing vào một làn lửa kín. Cấp đề xuất trải khoảng 250 tới 284. Trùm 14-80 từng bị làm lại, nên lời khuyên cũ có thể đang tả một trận khác.

Cheerlet, Frugagon, Frostique, Sparkdoe, Blitzmane và Rockwu là phần lõi, còn Cluckeroo và Firecoil là hai con hồi máu quen mặt. Solaflora là món mới thú vị: nó rọi nắng hồi máu và tăng công thủ, rồi bắn hạt để có thêm nắng, nên mới đứng được ở chỗ vốn dành cho tường chắn. 14-70 đáng nghiên cứu vì nó hạ nhiều con T3 về bản T2, cho thấy chương này trông ra sao khi thiếu các bản tiến hoá cao. Có người qua 14-30 khi còn thấp hơn mục tiêu vài cấp, nên con số đề xuất không phải mức sàn cứng.

Tóm tắt

Level đề xuất
247–301
Tatari xuất hiện nhiều nhất
  • Cheerlet
  • Sparkdoe
  • Frostique
  • Frugagon
  • Azurion

VD: 12-40

Màn 14-10

10 đội hình · Level đề xuất: 249–289

Ghi chú về màn 14-10

14-10 là bức tường với rất nhiều người. Có người cấp 243, mọi võ đường đều cấp 3, không qua nổi, và kể cảm giác như phải nhét bốn linh thú vào cả hai làn đang chật vật.

Đội hình 1, cho cấp 255, cho mọi làn bắt đầu ngay hàng đầu. Theo lưới, làn 3 là làn đá, sâu bốn ô: Rubblet, Gibber, Rockwu và Rattlecoil. Rubblet và Gibber là T1, nhưng là hộ vệ, việc của chúng là trụ trong khi bản sao đánh đồng loạt của Rockwu và loạt sóng nhanh của Rattlecoil lo sát thương. Rattlecoil, bản T2 của Taptail, có thể gây choáng bằng loạt sóng đó.

Thành phần làn 4: Firecoil, Frostique và Synthhog: hồi máu, làm chậm và dễ vỡ trong ba hàng. Nhìn sang làn 2: Boldclaw, Cheerlet và Wobbler, con T1 bắn cầu điện. Đội hình làn 5: Blitzmane, Sparkdoe và Cluckeroo tít phía sau. Làn 1 dành cho Stalkerix và Frugagon.

Nếu chú khỉ của bạn chưa T3, có người gợi ý dùng một tay đánh hệ đá khác thay vào. Có lúc Electroar được đặt vào chỗ Blitzmane, Nimbuzzy từng thay Synthhog.

Mở trang màn 14-10 →

Màn 14-20

9 đội hình · Level đề xuất: 250–277

Ghi chú về màn 14-20

14-20 cho mọi làn bắt đầu từ hàng hai trở về sau và dựng một làn giữa dày đặc hệ sét. Ở làn 3 là Blitzmane ở hàng hai, rồi Zaplet, Sparkdoe và Surgehoof. Sĩ khí của chú sư tử tăng sức cho các con phía sau, Zaplet đánh dấu trinh sát, Sparkdoe gây tê liệt, sóng xung kích của Surgehoof bắn toé.

Với màn này, làn 1 là làn đỡ đòn. Jarachnid dẫn đầu, Turtuff phía sau, Frugagon ở hàng bốn. Khi khiên chất lỏng của Jarachnid vỡ, quái gần đó bị choáng, còn khiên mai rùa của Turtuff giúp che quãng thời gian Jarachnid dựng lại khiên.

Phía làn 4 là Cobbledon, Firecoil và Rockwu phía sau, nên bản sao của chú khỉ được vòng lửa hồi máu. Phía làn 2 là Swaystroll, Cheerlet và Frostique. Làn 5 bắt đầu từ hàng ba với Azurion và Bubbit.

Làn 5 là chỗ bạn hở nhất. Không có hộ vệ, nên thiêu đốt của Azurion và làm chậm của Bubbit phải tự giữ quái tránh xa.

Có lúc Capobeetle được đặt vào chỗ Turtuff, Clawzor hoặc Ospisces từng thay Swaystroll, Kitjitsu hoặc Humbleetle từng thay Cobbledon, Pyrohound hoặc Capypapa từng thay Bubbit.

Mở trang màn 14-20 →

Màn 14-30

9 đội hình · Level đề xuất: 250–289

Ghi chú về màn 14-30

14-30 từng được qua ở cấp 240 bởi một người chơi đã chỉnh lại từ bản dành cho cấp 244, nên còn chút khoảng trống dưới mức cấp ghi trên.

Cụ thể, làn 3 là làn nước và sâu nhất: Swaystroll ở hàng hai, Zaplet phía sau, Ripplewing ở hàng bốn và Frostique ở cuối. Giấc ngủ của Ripplewing và băng của Frostique đều làm chậm, còn trinh sát của Zaplet nổ lên đám quái đã bị ghim tại chỗ.

Ở làn 2 có Blitzmane, Cheerlet, Turtuff và Sparkdoe. Chú sư tử tăng sức, Cheerlet hồi máu, còn Turtuff ở hàng ba làm bức tường thứ hai phía sau.

Đáng chú ý, làn 4 và làn 5 bắt đầu từ hàng ba. Làn 4 là cú lao của Goonbug trước Cluckeroo và Azurion, làn 5 là Cobbledon với Rockwu phía sau. Ở làn 1 có Stalkerix, Frugagon cách hai hàng.

Goonbug là ô hay được đổi nhất. Capobeetle ba lần thay nó, bản này còn thêm dễ vỡ vào cú lao. Có lần Humbleetle được dùng thay Rockwu, Cobbledon hoặc Turtuff, Jarachnid hoặc Frugatoad từng thay Frugagon, Synthhog từng thay Zaplet.

Mở trang màn 14-30 →

Màn 14-40

6 đội hình · Level đề xuất: 250–278

Ghi chú về màn 14-40

14-40 dựng bàn cờ quanh một làn cỏ năm hàng ở giữa. Xét bố cục, làn 3 bắt đầu từ hàng hai với Stalkerix, rồi Frugagon, Cluckeroo và Cactobloom ở cuối. Làm chậm của Frugagon giữ quái trước mặt Stalkerix, còn các tầng chích của Cactobloom phát nổ khi quái bị chích chết, nên một đám đã chậm thường đổ sụp cùng lúc.

Làn số 1 là Blitzmane dẫn Bubbit và Frostique. Sĩ khí của chú sư tử tăng sức cho hai con phía sau, còn sương của Bubbit đánh dấu dễ vỡ đúng chỗ mảnh băng của Frostique rơi xuống.

Làn thứ tư là Swaystroll, Cheerlet và Flametail. Làn thứ năm là Turtuff, Sparkdoe và Azurion, một hộ vệ có tê liệt và thiêu đốt phía sau. Về bố cục, làn 2 là làn ngắn, Cobbledon và Rockwu, hai hộ vệ hệ đá không có ai hồi máu.

Thua thì làn 2 là chỗ cần xem. Bản sao của Rockwu có giúp, nhưng làn đó chẳng có gì làm chậm quái hay hồi máu cho cặp này.

Trên lưới, Humbleetle hai lần thay Cobbledon, bóng phân của nó thêm làm chậm mà làn đang thiếu. Có lúc Firecoil được đặt vào chỗ Flametail, Capobeetle từng thay Turtuff, Rockfu từng thay Rockwu.

Mở trang màn 14-40 →

Màn 14-50

3 đội hình · Level đề xuất: 250–269

Ghi chú về màn 14-50

14-50 (cấp 250) đẩy phần lớn các làn lùi về hàng ba, nên quái phải đi một quãng dài mới gặp ai. Ngoại lệ là làn 3, nơi Cobbledon đứng hàng hai, Turtuff phía sau, Frugagon ở hàng bốn và Rockwu ở cuối.

Vậy làn 3 có tới ba hộ vệ, Frugagon kẹp ở giữa. Tia tách nhánh của Cobbledon và mai xoay của Turtuff đỡ những đòn đầu, Frugagon làm chậm từ phía sau, bản sao của Rockwu nhập cuộc từ hàng năm.

Nimbuzzy là con mới ở làn 2, giữa Stalkerix và Cluckeroo. Nó gọi mây liên tục gây sát thương sét nhỏ, xen kẽ mây trắng với mây đen gây tê liệt. Stalkerix đánh liên tục ngay phía trước, nên quái bị mây đen làm tê liệt sẽ đứng im trong tầm của bọ ngựa.

Theo lưới, làn 1 là làn lửa: Pyrohound, Firecoil và Azurion. Làn 4 được xếp Blitzmane, Cheerlet và Zapooch. Làn 5 bắt đầu từ hàng bốn với Frostique và Sparkdoe, và chẳng có hộ vệ nào.

Cụ thể, làn 5 là làn cần để mắt. Làm chậm của Frostique và tê liệt của Sparkdoe phải chặn quái trước khi chúng chạm tới hai tay đánh này.

Mở trang màn 14-50 →

Màn 14-60

8 đội hình · Level đề xuất: 252–301

Ghi chú về màn 14-60

14-60, được ghi ở cấp 252, đặt một làn lửa đầy đủ ở giữa từ hàng hai: Pyrohound, Firecoil, Azurion và Scorchwing. Scorchwing là con mới. Nó bắn liền năm quả cầu lửa rồi nghỉ một lúc, nên đánh theo từng đợt, còn thiêu đốt của Azurion tiếp tục cháy ở khoảng giữa.

Làn 4 dành cho Blitzmane ở hàng ba, Synthhog và Capypapa. Thành phần làn 2: Rockwu, Cheerlet và Sparkdoe. Làn 5 gồm Frugagon, Cluckeroo và Flametail. Làn 1 bắt đầu từ hàng bốn, có Maskfry và Frostique, kéo quái dồn lại cho băng rơi.

Một người chơi có bản tự xếp không chạy được đã được khuyên đẩy làn bên phải lên một hàng để đòn đẩy lùi của sư tử chạm tới cả làn đó, và đẩy con thỏ hồi máu lên luôn. Lời khuyên đó cũng nói làn bên phải có vẻ cần con cua. Một người khác kể đã thử quả lê và con bọ thay cho con khủng long.

Swaystroll ba lần thay Maskfry, Clawzor hoặc Polarpaw cũng từng vào ô đó. Trên lưới, Pyroprawn hoặc Bubbit từng thay Scorchwing, Cobbledon từng thay Rockwu.

Mở trang màn 14-60 →

Màn 14-70

10 đội hình · Level đề xuất: 260–294

Ghi chú về màn 14-70

14-70 (cấp 269) dùng dạng T2 ở những chỗ mà các màn trước đặt T3. Làn 1 gồm Electroar thay cho Blitzmane, làn 3 có Rockfu thay cho Rockwu, làn 4 có Frugatoad thay cho Frugagon, làn 5 có Frostpaw thay cho Frostique.

Vì vậy làn đá ở giữa phải gánh nặng hơn. Cobbledon dẫn từ hàng hai, Turtuff phía sau, rồi Rockfu và Humbleetle. Bóng phân của Humbleetle bám lại chỗ rơi và làm chậm liên tục, bù cho việc Frugatoad không có làm chậm.

Làn 2 bao gồm Pyrohound, Firecoil và Ripplewing, giấc ngủ của Ripplewing ở cuối. Làn 1 được giao cho Electroar, Cheerlet và Sparkdoe. Ở làn 4 là Stalkerix, Cluckeroo và Frugatoad. Làn 5 được giao cho Swaystroll, Frostpaw cách hai hàng.

Với một đội hình đang thua, cách sửa được gợi ý là đổi Droppit lấy Cheerling, đổi quả lê lấy Funglet, rồi xếp lại vị trí.

Frostique sáu lần thay Frostpaw, Frugagon hai lần thay Frugatoad, nên có T3 thì cứ dùng. Theo lưới, Rockhog, Rattlecoil hoặc Gemsnail từng thay Turtuff, Ospisces từng thay Ripplewing.

Mở trang màn 14-70 →

Màn 14-80

10 đội hình · Level đề xuất: 247–289

Ghi chú về màn 14-80

14-80 là trùm ở cấp 284, và con trùm này từng được làm lại, nên người chơi hỏi về nó thường là hỏi bản mới.

Đội hình 1 cho ba làn bắt đầu ngay hàng đầu. Làn 3 là làn dài: Snoozebo, Synthhog, Surgehoof và Boltskipper ở hàng năm. Snoozebo là con mới. Nó bắn gai xuyên thấu trong lúc ngủ gật và ngáy, đồng thời hồi máu, rất hợp với vai hứng những đòn đầu của trùm.

Phía sau, Synthhog rải trinh sát và dễ vỡ, sóng xung kích của Surgehoof bắn toé, quả cầu của Boltskipper gây trói từ cuối làn.

Làn thứ nhất gồm Electroar, Firecoil và Turtuff. Làn thứ hai gồm Cobbledon, Cheerlet và Humbleetle. Làn thứ năm là Swaystroll, Frostique cách hai hàng. Làn 4 bắt đầu từ hàng ba với Frugagon, Pandaroot và Azurion.

Với bản trùm mới, có người gợi ý thay Blueflick bằng Ashlarva ở làn một, và dùng bọ ngựa, hoa hướng dương cùng lợn rừng ở làn bốn thay vào.

Capobeetle hai lần thay Pandaroot, Rockwu hai lần thay Humbleetle, Waveflutter hai lần thay Swaystroll.

Mở trang màn 14-80 →

Đội hình được đánh số theo thứ tự hiển thị ở trên, tính từ trái sang phải, từ trên xuống.

Đội hình được chọn lọc từ cộng đồng và chạy thử trước khi đăng · Hình: Clash of Critters Wiki