Màn
4-80
Level đề xuất
92
▲ Phía quân địch
9 màn · 30 đội hình
Sang chương 5 là hết chuyện một đội hình gánh cả chương. Từ 5-10 tới 5-80, màn nào cũng có bàn riêng và mỗi bàn dựa vào một mánh khác nhau: 5-10 dựng một cột làm chậm bên trái, 5-20 có làn lửa không ai đứng trước, 5-30 đẩy một mình Pyropup lên đầu, 5-40 cho con hồi máu đứng mũi một làn, còn 5-50 kéo cả đội về hàng cuối. Cấp đề xuất chỉ nhích từ khoảng 95 lên tầm 105, nên cái khó nằm ở hình dạng bàn chứ không ở con số. Làn giữa của 5-70 là chỗ người chơi cãi nhau nhiều nhất.
Qua các bàn đó, vài cái tên cứ xuất hiện hoài. Snoozebo và Pearpair lo gần hết việc đứng trước, một con vừa bắn gai xuyên vừa tự hồi máu, con kia cứ đứng đó mà chịu đòn. Phía sau, quả gai nổ của Frugatoad gần như màn nào cũng có, còn chuỗi sét của Zapooch giúp hàng sau với xa hơn. Cheerling là con mất rồi mới thấy tiếc, vì nó hồi máu, lại còn tăng công lẫn thủ cho cả cụm đứng quanh. Dư cấp thì cứ dồn cho mấy con đứng đầu và Cheerling. Lỗi hay gặp nhất ở chương này là bê nguyên lưới màn trước sang, nên màn nào cũng phải nhìn lại bàn.
Frugatoad
Ignisnap
Pearpair
Boldclaw
Frostpaw1 đội hình · Level đề xuất: 92
Màn
4-80
Level đề xuất
92
▲ Phía quân địch
4-80 xếp theo kiểu chịu đòn trước, trả đòn sau. Điểm đáng để ý là Blowfin đứng đầu làn 2: con nào áp sát là ăn ngay một cú phản đòn nổ diện rộng, rảnh tay thì nó ngồi thiền hồi máu, nên chạm mặt quái càng sớm càng có lời. Sackling đứng ngay sau bắn bong bóng phụ và liên tục dựng lại khiên nước.
Khó thay nhất là Sparkeet ở làn 4. Nó vừa được giảm sát thương nhận vào, vừa nối điện cho đồng đội quanh mình để tăng công, mà Zapooch với Zapuni phía sau chính là hai tay cần cú tăng công đó. Đứng lẻ loi thì nó phóng được mấy dòng điện yếu xìu, nên đừng tách nó khỏi hai con kia.
Sát thương chủ yếu nằm ở hàng cuối: mìn của Embertail, quả gai nổ của Frugatoad, bùn làm chậm của Rockhog, và Shardsnail mở trận bằng một cụm pha lê. Phía trên, Boldclaw giữ làn 5 bằng sóng bong bóng làm chậm, Rubblet chiếu tia sáng xanh mở làn 1, còn Snoozebo dẫn đầu làn 3, vừa xả gai vừa tự hồi máu. Taptail khởi động chậm, bắn lai rai vài sóng âm rồi mới xả dồn dập, nên làn 3 mà vỡ sớm thì xem nó trước tiên.
1 đội hình · Level đề xuất: 95
Màn
5-10
Level đề xuất
95
▲ Phía quân địch
5-10 dồn việc khống chế vào làn 1. Waddledo đứng đầu núp sau khiên băng, khiên vỡ thì bắn tinh thể; Droppit phủ sương làm chậm cả đám đang xếp hàng phía sau; Ignisnap ở cuối làn châm lửa đúng vào đám bị làm chậm đó. Đừng đảo thứ tự: quái phải bị giữ lại trong sương thì thiêu đốt mới ăn tiền.
Mất con nào tiếc nhất thì là Cheerling. Nó nấp sau Pearpair ở đầu làn 2, vừa hồi máu vừa tăng công/thủ cho mấy con xung quanh, nhờ thế Pearpair trụ vững còn Embertail cứ yên tâm cài mìn.
Ở đây, làn 5 là làn lì đòn. Momopo đánh mạnh hơn vào mục tiêu bị suy nhược, cứ hạ một con là dừng tay hồi máu; Tindercub ngay sau thì có thể lao lên, hoặc lùi về ngồi thiền khi gặp nguy, nên cặp này đấu lâu cực kỳ. Tại màn này, Rubblet ở hàng ba chiếu tia yểm trợ.
Từ cuối làn 4, Boltskipper bắn cầu điện trói chân địch, cho Snoozebo và Zapooch có thời gian gặm dần. Nhiều con của 4-80 quay lại, nhưng gần như con nào cũng đổi ô, nên xếp lại từ đầu còn nhanh hơn vá đội cũ.
2 đội hình · Level đề xuất: 97–98
Màn
5-20
Level đề xuất
97
▲ Phía quân địch
Màn
5-20
Level đề xuất
98
▲ Phía quân địch
Làn 3 của 5-20 là một ván cược: không con nào đứng chắn phía trước, có Scorchwing, Embertail và Ignisnap xếp từ giữa ra sau. Trụ được là nhờ mìn của Embertail cài sẵn, quái bước vào là dính; Scorchwing xả một tràng năm quả cầu lửa; thiêu đốt của Ignisnap dọn nốt phần còn lại. Làn này mà thủng thì nên chèn thêm một con vào chính chỗ này.
Làn 4 là cái bẫy làm chậm. Snoozebo lì đòn ở đầu, sương của Droppit cộng bùn của Rockhog làm chậm hai lớp, thế là quái phải đứng ăn gai của Snoozebo rất lâu.
Con chủ chốt mà ít ai để ý là Capypapa. Từ cuối làn 5 nó hồi máu cho cả làn, nơi Zapooch đứng trên cùng mà chẳng có con đỡ đòn nào che; Boltskipper ở giữa bắn cầu điện trói chân, câu giờ cho từng đợt hồi máu.
Thay cho con chim cánh cụt ở 5-10, làn 1 có Cluckeroo, bắn một hạt gây sát thương và một hạt hồi máu cho Pearpair ở đầu làn. Boldclaw mở làn 2 bằng sóng bong bóng làm chậm, còn quả bóng nảy của Sealing dội qua dội lại phía sau Rubblet.
1 đội hình · Level đề xuất: 104
Màn
5-30
Level đề xuất
104
▲ Phía quân địch
5-30 đẩy mỗi làn lửa lên trước. Pyropup đứng tít đầu làn 3, Ignisnap sát sau lưng, còn các làn khác đều lùi vài hàng, nên làn lửa là làn chạm quái đầu tiên và phải chịu được cú đó. Giữ cho làn này không sập là Souphog: nó đốt máu của chính mình để ném ớt, phát khiên ẩm thực cho đồng đội, đến lúc gục còn hồi máu cho mấy con quanh đó. Đứng sau Pyropup và Ignisnap, nó che đúng cặp ăn đòn đầu tiên. Không có Souphog thì có lần qua màn này dùng Ashlarva ở làn đó thay vào, mất khiên nhưng bù bằng vòng lửa hồi máu.
Làn 4 sống nhờ đẩy lùi. Sóng của Zappur hất quái lùi lại, nên sét dây chuyền của Zapooch và cú nổ lan của Zapuni có thêm thời gian trước khi bị áp sát.
Làn 5 khá mỏng, có Pearpair với Voltkit; muốn có khiên mai rùa ở đó thì Turtuff thay Voltkit cũng ổn. Làn 2 có mai xuyên của Gibber và đòn chém liên hồi của Manteeny che trước Boltskipper, còn Snoozebo dẫn đầu làn 1, đứng trước Cluckeroo và Frugatoad.
5 đội hình · Level đề xuất: 99–113
Màn
5-40
Level đề xuất
99
▲ Phía quân địch
Màn
5-40
Level đề xuất
99
▲ Phía quân địch
Màn
5-40
Level đề xuất
106
▲ Phía quân địch
Màn
5-40
Level đề xuất
113
▲ Phía quân địch
Màn
5-40
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
Gần như chẳng còn gì của 5-30 giữ nguyên hình dạng, nên cứ coi 5-40 là xếp mới hoàn toàn. Làn trông lạ nhất là làn 2: Firecoil, một con hồi máu, đứng một mình ở đầu, còn Blueflick lùi tít phía sau. Xếp vậy là có ý cả. Vòng lửa của Firecoil vừa đốt quái lại gần, vừa hồi máu cho chính nó và đồng đội trong tầm, lại còn tăng công, nên nó đủ sức cầm chân cả làn để Blueflick đứng xa mà thiêu.
Làn 4 là cụm mạnh nhất bàn. Electroar đứng đầu đẩy lùi quái, Cheerling phía sau hồi máu và tăng công/thủ cho hàng xóm, còn Voltkit với Hippiehog cứ thế đánh trong vùng được tăng sức đó. Hippiehog thả một lồng điện rồi bắn tín hiệu xuyên về phía lồng, nên nó thích quái bị giữ ở xa, mà đó chính là việc của cú đẩy lùi.
Ở làn 3, Frostique gánh sát thương: khối băng làm chậm, mảnh băng xuyên bắn ra từ sau sóng bong bóng của Boldclaw. Clawzor dẫn đầu làn 1, khiến mục tiêu bị xé giáp để Pyropup và Frugatoad xử lý. Có lần qua màn đã dùng Pearpair ở làn 5 thay cho Sackling, còn Tindercub và Scorchwing giữ nguyên chỗ.
3 đội hình · Level đề xuất: 99–112
Màn
5-50
Level đề xuất
99
▲ Phía quân địch
Màn
5-50
Level đề xuất
107
▲ Phía quân địch
Màn
5-50
Level đề xuất
112
▲ Phía quân địch
5-50 kéo cả đội lùi về cuối bàn, làn nào cũng sâu y như nhau, nên chẳng có tuyến đầu theo kiểu thường thấy. Quái phải đi một quãng dài mới bị chặn, và cả bàn được xếp để quãng đường đó thật đau.
Trái tim của đội nằm ở giữa. Electroar dẫn đầu làn 3, con nào tới là bị đẩy lùi; Cheerling nằm ngay chính giữa bàn, hồi máu và tăng công/thủ cho mấy con quanh mình; mây sét của Fluffle thì lơ lửng trên làn từ phía sau. Thiếu Electroar thì đã có người qua màn bằng Voltkit hoặc Sparkeet ở làn đó; Sparkeet không đẩy lùi nhưng có giảm sát thương và nối điện tăng công.
Để Frostique mở đầu làn 5 là nước đi hơi lạ. Khối băng làm chậm của nó chạm quái trước mọi thứ khác, Tindercub phía sau có thể lao lên kết liễu hoặc lùi về ngồi thiền, còn Zapooch giật sét dây chuyền từ cuối làn.
Làn 2 cũng có thể đổi Boltskipper lấy Snoozebo nếu bạn muốn một con tự hồi máu thay vì quả cầu trói chân. Vòng lửa của Firecoil ở đầu làn 4 làm hai việc một lúc: hồi máu và tăng sức cho Blueflick với Hippiehog phía sau.
2 đội hình · Level đề xuất: 107
Màn
5-60
Level đề xuất
107
▲ Phía quân địch
Màn
5-60
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
Làn 3 là nơi 5-60 chồng hiệu ứng tăng sức. Sparkeet đứng đầu được giảm sát thương và nối điện cho đồng đội quanh mình để tăng công, Cheerling ngay sau góp thêm hồi máu và tăng công/thủ, thế là Fluffle ở cuối làn tung mây sét trong lúc được hưởng cả hai. Ở 5-50 làn này do Electroar dẫn đầu, sang đây Sparkeet nhận vị trí đó.
Trong lưới được ghi, làn 4 là làn dài nhất. Ashlarva mở làn bằng vòng lửa vừa đốt vừa hồi máu, rất cần vì phía sau toàn là tay đánh: Zapooch, Cavyzap rồi Frostique. Khó thay nhất trong đám này là Frostique: khối băng làm chậm mục tiêu rồi vỡ thành mảnh băng xuyên, làm mềm cả hàng quái để lồng điện của Cavyzap dọn.
Gopher ở làn 2 bắt buộc phải có Rubblet che trước. Nó ném bùn, nhưng hễ quái áp sát là nó ngừng đánh, chui xuống đất để giảm sát thương, nên phải có con giữ quái ở ngoài. Có lần qua màn dùng Rockhog thay nó, kèm Momopo thay cho Sealing ở làn 1.
Ở làn 5, bào tử của Funglet rút chút máu của Waddledo và Tindercub nhưng đổi lại tăng công và tốc độ, hợp với con chim cánh cụt cần sống tới lúc khiên vỡ.
6 đội hình · Level đề xuất: 105–114
Màn
5-70
Level đề xuất
105
▲ Phía quân địch
Màn
5-70
Level đề xuất
106
▲ Phía quân địch
Màn
5-70
Level đề xuất
108
▲ Phía quân địch
Màn
5-70
Level đề xuất
110
▲ Phía quân địch
Màn
5-70
Level đề xuất
114
▲ Phía quân địch
Màn
5-70
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
Ở 5-70, làn giữa là chỗ bàn cãi nhiều nhất. Có người thấy làn này đuối, có người bảo chẳng cần mấy con, lại có người kể đã qua màn bằng cách nhồi hẳn năm linh thú vào giữa. Đội hình 1 chọn cách vừa phải. Snoozebo đứng đầu, vừa ngủ gật vừa bắn gai và tự hồi máu. Turtuff ngay sau phát khiên mai rùa, còn Rockhog bắn bùn làm chậm, để quái lững thững bước vào bãi mìn quả thông của Embertail ở cuối làn.
Con khó thay nhất lại nằm ở làn 4. Cheerling nhảy múa kẹp giữa Sackling và Tindercub, vừa hồi máu vừa tăng công/thủ cho cả hai, nhờ vậy con đỡ đòn trụ lâu hơn còn Tindercub đánh đau hơn. Rút nó ra là làn đó mất cả máu lẫn sát thương cùng lúc.
Làn 2 mới là chỗ dễ chế nhất. Swaystroll đứng đầu núp sau khiên băng, Capypapa ở sau lo hồi máu; có người khuyên cứ dựng làn này quanh con chim cánh cụt kèm hai con gây sát thương hệ Nước. Mẹo khác là thay con thằn lằn lửa, tức Ignisnap ở cuối làn 1, bằng một con hệ Nước ngon.
Xếp y hệt mà thua thì soi lại bản tiến hoá trước đã. Có người kể đội 5-70 không chạy vì mình không có đúng các bản tiến hoá; ở chỗ khác, câu trả lời cho một lần chép đội thất bại là còn tuỳ gặp quái gì. Còn con chim cánh cụt Waddledo trong Đội hình 1 của 5-60 thì sang đây đã lên Swaystroll.
9 đội hình · Level đề xuất: 105–118
Màn
5-80
Level đề xuất
105
▲ Phía quân địch
Màn
5-80
Level đề xuất
109
▲ Phía quân địch
Màn
5-80
Level đề xuất
109
▲ Phía quân địch
Màn
5-80
Level đề xuất
111
▲ Phía quân địch
Màn
5-80
Level đề xuất
117
▲ Phía quân địch
Màn
5-80
Level đề xuất
118
▲ Phía quân địch
Màn
5-80
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
Màn
5-80
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
Màn
5-80
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
Nhìn Đội hình 1 của 5-80, đáng để ý nhất là cách dồn quân. Làn 3 gánh bốn con, làn 2 chỉ có hai, hàng trên cùng bỏ trống, nên tuyến đầu lùi xuống hàng 2.
Sát thương chính nằm ở làn 3. Pyrohound mở màn bằng cột lửa, Tindercub đứng sau tung chưởng, nguy thì lùi lại ngồi thiền hồi máu. Cuối làn là Scorchwing và Ignisnap, cặp này đừng đụng vào: chưa thấy ai qua 5-80 mà thiếu một trong hai, riêng Ignisnap thì chưa rời làn giữa bao giờ. Scorchwing xả liền năm quả cầu lửa rồi phải nghỉ một lúc, quãng nghỉ đó có Ignisnap bắn lửa thiêu đốt bù vào.
Hai cánh lo làm chậm. Ở làn 5, bong bóng của Boldclaw, khối băng của Frostpaw và cục bùn của Rockhog đều làm chậm, quái đi làn này coi như lội ba lớp bùn. Làn 1 thì theo kiểu khác: Waddledo dựng khiên băng, khiên vỡ là nổ mảnh băng, Droppit phả sương vừa làm chậm vừa rút máu dần, còn Sparkdoe ở cuối phóng mũi sét xuyên hàng, làm tê liệt mấy con một lúc. Ở làn 4, bào tử của Funglet tăng công và tốc độ nhưng cắn chút máu đồng đội, có Pearpair lì đòn đứng trước thì vẫn lời.
Cả đội không có con nào chuyên hồi máu. Mấy cách xếp khác hay nhét Cheerling vào làn 2 hoặc Cluckeroo vào làn 4, mà làn 2 đang mỏng nhất nên thêm ở đó là hợp. Có Swaystroll thì cho nó thay Waddledo, Ashlarva đứng đầu làn 3 thay Pyrohound được, Cobbledon thay Rubblet, còn Voltfawn đứng chỗ Sparkdoe. Cấp gợi ý vẫn là 105 như 5-70, nên cái khó nằm ở cách xếp chứ không phải ở cấp.
Đội hình được đánh số theo thứ tự hiển thị ở trên, tính từ trái sang phải, từ trên xuống.
Đội hình được chọn lọc từ cộng đồng và chạy thử trước khi đăng · Hình: Clash of Critters Wiki