Màn
6-10
Level đề xuất
112
▲ Phía quân địch
8 màn · 52 đội hình
Tới chương 6, bàn bắt đầu thử xem từng làn có tự đứng vững được không. 6-10 xếp đội thành từng cột ngay ngắn, làn nào cũng chẳng dựa được vào làn bên cạnh. Ở 6-30 thì phần giữa dày đặc quân, hai mép lại mỏng tang. 6-40 thả Waddledo đứng tít phía trước bên phải, còn 6-50 gần như bỏ trống làn 2, chỉ có Zappur và Sparkdoe ở cuối xử lý quái lọt vào. Cấp đề xuất leo dần từ khoảng 111 lên 130. Màn đáng nhớ nhất là 6-80: Ospisces đứng sau Swaystroll gom quái lại một chỗ rồi chồng suy yếu lên chúng, cả nửa phải dựng quanh cú kéo đó.
Ignisnap là con có mặt suốt chương, màn nào cũng châm lửa, và muốn nó đáng tiền thì phải có đòn làm chậm phía trước. Khối băng của Frostpaw và bom nước gây ngủ của Ripplewing làm đúng việc đó, giữ quái đứng lâu trong lửa. Ở tuyến đầu, Swaystroll và Snoozebo thay nhau làm tường, và đây cũng là lúc mấy con T2 như Turtuff, Cobbledon, Cheerlet bắt đầu xuất hiện. Với 6-20, lời khuyên lặp đi lặp lại là cho bên trái một con hồi máu. Nhưng đừng coi Cheerling là bắt buộc: có người qua 6-70 mà không cần nó, nên thiếu một con chưa chắc đã hết đường.
Frostpaw
Ignisnap
Frugatoad
Stalkerix
Boldclaw2 đội hình · Level đề xuất: 112–113
Màn
6-10
Level đề xuất
112
▲ Phía quân địch
Màn
6-10
Level đề xuất
113
▲ Phía quân địch
6-10 xếp cả đội thành từng cột gọn gàng ở cuối bàn, làn nào cũng có đầu, giữa, cuối đàng hoàng. Đối xứng như vậy thì chẳng làn nào dựa được vào làn bên cạnh, làn nào cũng phải tự đứng vững.
Ở bàn này, làn 2 là làn hệ Nước trọn vẹn. Swaystroll tích lực sau khiên băng ở đầu, Capypapa đứng giữa hồi máu, Frostpaw phía sau bắn khối băng làm chậm rồi vỡ vụn. Capypapa giữ khiên cho Swaystroll càng lâu thì lúc khiên vỡ, cú nổ tinh thể càng lớn.
Con phải bảo vệ là Cheerlet ở làn 1. Ngoài hồi máu và tăng công/thủ, lần đầu có đồng đội gần đó lâm nguy, nó còn bật vùng bất tử. Đứng kẹp giữa Sackling và Tindercub, tấm lưới đỡ này hứng đúng cái lúc mà bình thường Tindercub đã phải lùi về ngồi thiền.
Làn 4 mài quái dần dần: Manteeny chém liên hồi, Cactobud chồng gai độc, Ignisnap gây thiêu đốt. Làn 5 mở màn bằng tia tách đôi của Cobbledon, Turtuff quay mai và phát khiên cho đồng đội phía trước Zapooch. Cluckeroo chốt cuối làn 3 sau Pearpair và Frugatoad, một hạt gây sát thương, một hạt hồi máu.
5 đội hình · Level đề xuất: 111–127
Màn
6-20
Level đề xuất
111
▲ Phía quân địch
Màn
6-20
Level đề xuất
125
▲ Phía quân địch
Màn
6-20
Level đề xuất
127
▲ Phía quân địch
Màn
6-20
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
Màn
6-20
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
Mẹo hay được nhắc ở 6-20 là đặt một con hồi máu bên trái, con gà hay con nào biết hồi máu cũng được, và Đội hình 1 làm đúng như vậy: Firecoil đứng ở làn 1 sau Turtuff, vòng lửa vừa hồi máu vừa tăng công cho cả làn. Sau nữa là Rockhog bắn bùn làm chậm, còn Goonbug ở tít cuối, tới lúc vào trận thì bật bất tử rồi lao thẳng lên.
Làn 4 là cặp đôi ăn ý nhất. Kitjitsu hồi máu mỗi khi đánh trúng quái đang bị thiêu đốt, mà Ignisnap ngay sau lưng nó chính là con châm lửa, nên hai đứa cứ thế nuôi nhau. Vì vậy Kitjitsu là con khó thay nhất; dù vậy cũng có lần qua màn dùng Flameow ở làn này thay vào.
Làn 3 giữ quái ở xa. Zappur đẩy lùi, Zapooch giật sét dây chuyền, còn giáo sét của Sparkdoe xuyên cả hàng và làm tê liệt con nào dính phải. Ở làn 2, Maskfry tung sóng kéo quái vào xoáy nước ngay trước mặt Frostpaw đang chờ sẵn với khối băng. Làn 5 sâu nhất: Snoozebo đứng đầu che cho Frugatoad, bãi mìn của Embertail và những tràng năm quả cầu lửa của Scorchwing.
5 đội hình · Level đề xuất: 117–124
Màn
6-30
Level đề xuất
117
▲ Phía quân địch
Màn
6-30
Level đề xuất
117
▲ Phía quân địch
Màn
6-30
Level đề xuất
120
▲ Phía quân địch
Màn
6-30
Level đề xuất
124
▲ Phía quân địch
Màn
6-30
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
6-30 dồn quân vào giữa, để hai rìa mỏng dính. Làn 2 và làn 3 xếp kín bốn con, trong khi làn 1 có Waddledo với Frostpaw ở tít sau, làn 5 thì Ignisnap đứng trước, Tindercub đứng cuối. Đội này cược vào chuyện hai làn giữa thắng đủ nhanh.
Về bố cục, làn 3 là làn hệ Đá. Rubblet chiếu tia mở đường, Shardsnail vừa vào trận đã thả một cụm pha lê, mai của Gibber xuyên dọc làn, bùn của Rockhog làm chậm phần còn lại. Làn 2 thì lì hơn: Snoozebo tự hồi máu ở đầu, Boldclaw tung sóng bong bóng làm chậm, Sackling liên tục dựng lại khiên nước, Zapooch giật sét từ cuối làn.
Đổi quân thì thường đổi ở hai rìa. Để Ignisnap mở đầu làn 5 là kiểu xếp ít gặp, và đã có người thay Tindercub phía sau nó bằng Pyrohound hoặc Kitjitsu. Kitjitsu đứng sau Ignisnap rất hợp, vì nó hồi máu khi đánh trúng quái đang cháy. Ở làn 1, cả Swaystroll lẫn Capypapa đều từng được dùng thay Waddledo, một con cho cú nổ băng lớn hơn, con kia để hồi máu.
Stalkerix chém không ngừng ở giữa làn 4, kẹp giữa Pearpair phía trước và Frugatoad phía sau.
6 đội hình · Level đề xuất: 110–128
Màn
6-40
Level đề xuất
110
▲ Phía quân địch
Màn
6-40
Level đề xuất
112
▲ Phía quân địch
Màn
6-40
Level đề xuất
114
▲ Phía quân địch
Màn
6-40
Level đề xuất
118
▲ Phía quân địch
Màn
6-40
Level đề xuất
127
▲ Phía quân địch
Màn
6-40
Level đề xuất
128
▲ Phía quân địch
Waddledo đứng chơ vơ ở đầu làn 5, vượt lên trước các con khác trên bàn, và đó chính là chủ ý. Trong lúc nó núp sau khiên băng, bom nước của Ripplewing làm chậm, thỉnh thoảng còn gây ngủ, rồi sương của Bubbit làm chậm thêm và khiến quái dễ vỡ. Con nào lết được tới chỗ chim cánh cụt thì cũng đã chậm như rùa.
Bubbit là con nên giữ. Làm chậm và dễ vỡ trên cả một vùng, lại đánh từ hàng cuối, nó gánh phần lớn việc của làn này; có lần qua màn đặt Frostpaw vào chỗ đó, bỏ màn sương để lấy sát thương băng trực tiếp.
Làn 2 giấu Cheerlet giữa Boldclaw và Ignisnap, nên cả sóng bong bóng làm chậm phía trước lẫn ngọn lửa phía sau đều được nó hồi máu, tăng sức và che chắn bằng lần bất tử. Làn 1 giữ quái ở xa: Electroar đẩy lùi, giáo sét của Sparkdoe xuyên hàng và gây tê liệt. Voltfawn, bản chưa tiến hoá của Sparkdoe, và Kittazap đều từng được dùng thay nó.
Làn 4 có cột lửa của Pyrohound đứng trước những cục phân dai dẳng của Humbug, Tindercub ở cuối. Ở làn 3, đã có người thay Goonbug bằng Cluckeroo, thay Manteeny bằng Stalkerix.
10 đội hình · Level đề xuất: 116–134
Màn
6-50
Level đề xuất
116
▲ Phía quân địch
Màn
6-50
Level đề xuất
119
▲ Phía quân địch
Màn
6-50
Level đề xuất
121
▲ Phía quân địch
Màn
6-50
Level đề xuất
124
▲ Phía quân địch
Màn
6-50
Level đề xuất
125
▲ Phía quân địch
Màn
6-50
Level đề xuất
127
▲ Phía quân địch
Màn
6-50
Level đề xuất
130
▲ Phía quân địch
Màn
6-50
Level đề xuất
134
▲ Phía quân địch
Màn
6-50
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
Màn
6-50
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
Làn 2 của 6-50 gần như bỏ trống: có Zappur và Sparkdoe, cả hai đều ở mấy hàng cuối. Quái được đi bộ thoải mái cho tới khi sóng của Zappur hất ngược lại và giáo sét của Sparkdoe xuyên cả hàng, gây tê liệt. Nhớ để Zappur đứng trước Sparkdoe, vì chính cú đẩy lùi giữ cho làn này khỏi bị tràn. Cũng có lần qua màn dùng Zapuni thay Zappur, bỏ đẩy lùi để lấy sát thương nổ lan.
Làn 3 là cỗ máy sát thương. Snoozebo đứng đầu vừa bắn gai vừa tự hồi máu, pháo hoa của Flametail nổ ngay sau, còn Cheerlet hồi máu, tăng sức cho cặp này và bật vùng bất tử một lần khi có con gặp nguy. Thiêu đốt của Ignisnap từ cuối làn kết thúc mọi chuyện.
Làn 1 mượn ý tưởng của 6-40 là đặt Bubbit ở cuối, để màn sương làm chậm, làm mềm quái cho khối băng của Frostpaw và tia tách đôi của Cobbledon. Có người còn dùng Pyroprawn vào chỗ Bubbit.
Ô của Swaystroll ở làn 4 là ô dễ đổi nhất bàn: đã có người đặt Stalkerix hoặc Manteeny vào đó thay nó. Làn 5 là góc yên ổn nhất, Sackling và Pearpair che trước cho Cluckeroo bắn hạt vừa gây sát thương vừa hồi máu.
7 đội hình · Level đề xuất: 120–138
Màn
6-60
Level đề xuất
120
▲ Phía quân địch
Màn
6-60
Level đề xuất
123
▲ Phía quân địch
Màn
6-60
Level đề xuất
125
▲ Phía quân địch
Màn
6-60
Level đề xuất
127
▲ Phía quân địch
Màn
6-60
Level đề xuất
131
▲ Phía quân địch
Màn
6-60
Level đề xuất
133
▲ Phía quân địch
Màn
6-60
Level đề xuất
138
▲ Phía quân địch
6-60 dồn hết lửa vào một chỗ. Làn 1 có cột lửa của Pyrohound ở đầu, Ignisnap gây thiêu đốt ngay sau, mìn của Embertail lùi thêm chút nữa, còn Cluckeroo đứng cuối dùng hạt hồi máu giữ cả đám sống. Quái nào lạc vào làn 1 là bị đốt từ mấy phía cùng lúc, nên làn này hiếm khi cần ai giúp.
Làn 4 thì ngược lại, chuyên câu giờ. Electroar đứng đầu đẩy lùi quái, sương của Droppit từ tít cuối làm chậm cả hàng, và giáo sét của Sparkdoe ở giữa có đủ thời gian xuyên qua rồi làm tê liệt. Có lần qua màn đã đổi Droppit lấy Capypapa ở đây, bỏ làm chậm để lấy hồi máu.
Cheerling đứng giữa Snoozebo và Rockhog, giữ cho làn 2 không rời ra: con đỡ đòn phía trước lẫn tay ném bùn phía sau đều được nó hồi máu và tăng sức. Nếu của bạn đã tiến hoá thì đặt Cheerlet vào làn đó cũng được, còn có thêm một lần bất tử; Cobbledon cũng từng được dùng thay nó.
Đứng ở làn 3 là Swaystroll và Frostpaw, chim cánh cụt tích lực sau khiên còn Frostpaw làm chậm từ phía sau. Stalkerix chém liên hồi ở giữa làn 5, kẹp giữa Sackling và Frugatoad.
8 đội hình · Level đề xuất: 126–139
Màn
6-70
Level đề xuất
126
▲ Phía quân địch
Màn
6-70
Level đề xuất
130
▲ Phía quân địch
Màn
6-70
Level đề xuất
132
▲ Phía quân địch
Màn
6-70
Level đề xuất
134
▲ Phía quân địch
Màn
6-70
Level đề xuất
135
▲ Phía quân địch
Màn
6-70
Level đề xuất
139
▲ Phía quân địch
Màn
6-70
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
Màn
6-70
Level đề xuất
Chưa rõ
▲ Phía quân địch
Ở 6-70 hoá ra Cheerling không bắt buộc: có người kể đã qua màn mà không cần nó, ở cấp 120. Biết vậy cũng đỡ lo, vì Đội hình 1 giao cho nó vị trí trung tâm nhất bàn, ngay sau Electroar ở làn 3, vừa hồi máu vừa tăng công/thủ trong lúc Electroar đẩy lùi quái còn giáo sét của Sparkdoe xuyên hàng, gây tê liệt từ phía sau. Không có Cheerling, làn 3 còn đẩy lùi với tê liệt, là kém lì hơn chút.
Ở màn này cả đội dồn lên mấy hàng đầu, làn nào cũng chạm quái sớm, nên tuyến đầu được xếp rất chắc. Stalkerix chém không ngừng ở đầu làn 1, Voltkit với Turtuff thành một cặp ở làn 2, có khiên mai rùa che cho nhau, còn cột lửa của Pyrohound mở làn 4 trước Zapooch và Ignisnap.
Làn 5 có Swaystroll đứng trước Frostpaw, Boltskipper ở cuối bắn cầu trói chân. Màn này đổi quân rất nhiều: Waddledo hoặc Polarpaw thay Swaystroll, Capypapa thay Boltskipper, Cobbledon thay Electroar, Snoozebo thay Stalkerix.
9 đội hình · Level đề xuất: 122–169
Màn
6-80
Level đề xuất
122
▲ Phía quân địch
Màn
6-80
Level đề xuất
123
▲ Phía quân địch
Màn
6-80
Level đề xuất
124
▲ Phía quân địch
Màn
6-80
Level đề xuất
129
▲ Phía quân địch
Màn
6-80
Level đề xuất
130
▲ Phía quân địch
Màn
6-80
Level đề xuất
132
▲ Phía quân địch
Màn
6-80
Level đề xuất
144
▲ Phía quân địch
Màn
6-80
Level đề xuất
169
▲ Phía quân địch
Màn
6-80
Level đề xuất
169
▲ Phía quân địch
Con làm nên chất riêng của 6-80 là Ospisces. Đứng ngay sau Swaystroll ở làn 5, nó tung sóng kéo quái lại, kéo được nhiều con một lúc thì xoáy nước còn chồng hiệu ứng suy yếu lên chúng. Thế là cả đám bị gom đúng vào chỗ mà tinh thể băng của chim cánh cụt rơi xuống khi khiên vỡ. Đây cũng là chỗ khác so với 6-70, khi đó ô này là của Frostpaw, và có người qua màn bằng Frostpaw thay vào nếu dòng Maskfry nhà mình chưa tiến hoá.
Làn 3 là con đường sét. Zappur đứng đầu đẩy lùi, Zapooch giật dây chuyền, giáo sét của Voltfawn gây tê liệt, cầu điện của Boltskipper trói chân, nên quái đi qua làn này gần như suốt ngày đứng im.
Làn 2 dùng lại chiêu lửa quen thuộc: Kitjitsu tự hồi máu mỗi khi đánh trúng quái đang cháy, Ignisnap phía sau thì cứ đốt cho chúng cháy mãi, cột lửa của Pyropup che phía trước. Buzzbeak dẫn đầu làn 4, vừa được giảm sát thương vừa tiếp điện tăng công cho Manteeny và Frugagon phía sau. Snoozebo mở làn 1 trước Cobbledon và Voltkit; có người thay nó bằng Gibber.
Đội hình được đánh số theo thứ tự hiển thị ở trên, tính từ trái sang phải, từ trên xuống.
Đội hình được chọn lọc từ cộng đồng và chạy thử trước khi đăng · Hình: Clash of Critters Wiki