Bỏ qua, tới nội dung chính
← Tất cả màn

Đội hình chương 7: màn 7-10 đến 7-80

8 màn · 67 đội hình

Chương 7 dài, và đây là chương đầu tiên bàn chịu đứng yên: từ khoảng màn 40 trở đi, một lưới thường dùng cho ba bốn màn liền rồi mới xáo lại. Ngay 7-10 đã nhắc là đừng kéo đội 6-80 sang. Sau đó điểm áp lực cứ đổi chỗ. 7-46 dựng nguyên một bức tường ở hàng đầu, 7-48 để hổng một ô ở làn 2, 7-63 nhét bốn con vào giữa mà làn 5 chỉ còn hai. Cấp đề xuất trải từ chừng 127 tới 164. 7-70 là cuộc đua sát thương với trùm, và nếu hết giờ khi trùm chỉ còn chút máu thì cách mọi người hay làm là cho linh thú ăn để tăng chỉ số.

Đây là lúc bộ khung T2 thành hình. Electroar, Pyrohound, Turtuff và Stalkerix thay phiên đứng đầu các làn, con thì đẩy lùi, con thì cột lửa, con thì mai xoay có khiên, con thì chém liên tục. Sau lưng chúng, Cheerlet giữ vai hồi máu và tăng sức, còn ở 7-30 người chơi nói thẳng là thiếu bản trước của nó thì đội vỡ. Băng làm chậm của Frostpaw và sương dễ vỡ của Bubbit khiến từng đòn của Ignisnap, Frugatoad đau hơn hẳn. Cấp dư nên dồn cho con đứng đầu nào không có ai hồi máu gần. Làn nào có lỗ hổng thì lấp lỗ đó trước rồi hẵng tính chuyện đổi quân.

Tóm tắt

Level đề xuất
127–164
Tatari xuất hiện nhiều nhất
  • Frostpaw
  • Ignisnap
  • Stalkerix
  • Cobbledon
  • Frugagon

VD: 12-40

Màn 7-10

3 đội hình · Level đề xuất: 127–131

Ghi chú về màn 7-10

Sang chương 7 là bàn cờ mới tinh, đừng cố vá đội 6-80. Trụ cột của bàn là làn giữa. Turtuff đứng đầu ném mai xuyên và phủ khiên mai rùa cho đồng đội, Rubblet chiếu tia yểm trợ, Cheerling ở hàng ba hồi máu và tăng sức cho cả hai, còn mấy cục phân của Humbug dính vào đâu là gây sát thương dai dẳng ở đó, mài mòn đám quái bị chặn trước bức tường này.

Xét bố cục, làn 2 là làn đánh chủ động. Cột lửa của Pyrohound mở đường, Tindercub ngay sau có thể lao lên kết liễu hoặc lùi về ngồi thiền khi gặp nguy, Ignisnap ở cuối thì cứ thế mà đốt. Có lần qua màn dùng Pyropup, bản chưa tiến hoá của Pyrohound, ở làn 2, lần khác lại đổi Tindercub lấy Joeyo.

Electroar đẩy lùi quái ở làn 4 để Zapooch và Sparkdoe phía sau yên tâm đánh; Clawzor cũng từng được dùng thay Electroar. Làn 1 là chim cánh cụt với Frostpaw ở tít phía sau, làm chậm những con đang bị khiên chặn lại. Sackling và Stalkerix đứng đầu làn 5, trước Frugatoad.

Mở trang màn 7-10 →

Màn 7-20

10 đội hình · Level đề xuất: 133–147

Ghi chú về màn 7-20

7-20 đảo ngược trật tự quen thuộc. Mấy làn liền đẩy tay đánh lên trước và để hộ vệ ở sau: Frostpaw dẫn đầu làn 2, Electroar đứng sau; Cactobud mở làn 3, Stalkerix chốt cuối; còn Cheerling, nghe thì lạ, lại đứng đầu làn 4 với Pyrohound cách hai hàng phía sau. Cả bàn lùi về mấy hàng cuối nên mấy con đứng đầu còn khoảng trống, còn hộ vệ phía sau lo hứng những con lọt qua.

Ô của Cheerling là ô bị thay nhiều nhất. Đã có người đặt Waddledo, Frugagon hoặc Kitjitsu vào đó thay nó, nên có vẻ làn 4 chủ yếu cần một con lì hoặc một con đánh đau đứng trước Ignisnap, chứ không nhất thiết là con hỗ trợ.

Làn 1 là bẫy làm chậm: khiên băng của Swaystroll ở đầu, bom nước của Dewgrub làm chậm, thỉnh thoảng gây ngủ, rồi Clawzor ở cuối vung càng xé giáp. Làn 5 cũng y một kiểu, sương của Droppit phủ phía sau Turtuff và Sackling. Sparkdoe kẹp giữa Frostpaw và Electroar, phóng giáo xuyên dọc làn 2 và gây tê liệt. Cũng có lần qua màn dùng Ospisces và Nekowatt thay Swaystroll với Electroar.

Mở trang màn 7-20 →

Màn 7-30

9 đội hình · Level đề xuất: 132–150

Ghi chú về màn 7-30

Ở 7-30, Cheerling xứng đáng với chỗ đứng của mình. Có người than đội mình sập hẳn khi thiếu nó, và câu trả lời chỉ ra thêm một điểm yếu nữa: làn bên phải thiếu mấy con T2. Trong Đội hình 1, Cheerling đứng giữa Waddledo và Ignisnap ở làn 2, hồi máu và tăng sức cho chim cánh cụt để khiên trụ lâu, đồng thời đẩy thiêu đốt của Ignisnap mạnh hơn. Không có nó thì đã có người dùng Cheerlet, bản tiến hoá của nó, hoặc Firecoil, con có vòng lửa cũng hồi máu và tăng công, để thay vào.

Làn bên phải chính là làn 5: Snoozebo, Cobbledon và Rockhog, đều là bản T2. Snoozebo tự hồi máu trong lúc bắn gai, tia của Cobbledon tách ra đánh nhiều mục tiêu, bùn của Rockhog làm chậm. Chưa đủ tiến hoá thì làn này vỡ đầu tiên, nên có nâng cấp thì ưu tiên ở đây trước. Có lần qua màn đã dùng Rockfu thay Snoozebo.

Đáng chú ý, làn 3 là làn sét câu giờ: Electroar đẩy lùi, Voltkit với Voltfawn đánh và gây tê liệt. Sackling, Boldclaw và Frostpaw làm chậm làn 1, còn Goonbug từ giữa làn 4 bật bất tử lao lên.

Mở trang màn 7-30 →

Màn 7-40

9 đội hình · Level đề xuất: 136–147

Ghi chú về màn 7-40

Ở 7-40, làn 3 là bức tường, và nó được xây từng lớp. Sackling ăn đòn đầu tiên và liên tục dựng lại khiên nước, Turtuff phía sau quay mai xuyên và phát khiên mai rùa, còn Punchimp lắc hông gây sát thương lặt vặt cho mọi thứ quanh nó, thỉnh thoảng còn gọi thêm một bản sao. Frugagon ở cuối là phần thưởng cho việc trụ được: quả gai của nó nổ thường xuyên và làm chậm, tường đứng càng lâu thì nó làm mềm càng nhiều quái.

Ô của Swaystroll là ô bị đổi nhiều nhất. Không ít người đặt Ospisces ở làn 1 thay vào, bỏ con đỡ đòn có khiên băng để lấy sóng kéo quái vào xoáy nước ngay trước mặt Frostpaw.

Làn 4 là ổ hỗ trợ. Electroar đẩy lùi, Cheerling hồi máu và tăng sức, giáo sét của Sparkdoe xuyên ra từ sau lưng cả hai. Ở làn 5, Pyrohound che cho Kitjitsu và Cluckeroo; có người thay Kitjitsu bằng Goonbug, có người lấy Cactobud hoặc Frugatoad thay Cluckeroo. So với 7-30, khác rõ nhất là làn 1, mở đầu bằng Swaystroll chứ không còn là Sackling.

Mở trang màn 7-40 →

Màn 7-50

10 đội hình · Level đề xuất: 131–156

Ghi chú về màn 7-50

7-50 là kiểu màn mà cùng một đội, ván này thắng ván sau thua; có người nói đúng như vậy về lần qua màn của mình, người khác thì bảo phải thay vào Bubbit và cua T3 mới chắc ăn. Đội hình 1 không dùng con nào trong hai con đó, nên cứ coi chúng là nâng cấp cho làn nào hay vỡ, chứ không phải điều kiện bắt buộc.

Sự ổn định nằm ở làn 1. Capypapa đứng sát sau Swaystroll để hồi máu, nhờ vậy chim cánh cụt giữ khiên băng lâu và tích lực được nhiều trước khi nổ, còn Frostpaw làm chậm từ cuối làn. Có lần qua màn đổi Capypapa lấy Voltling, bỏ hồi máu để lấy tê liệt.

Làn 4 cố tình để mỏng, có Electroar và Sparkdoe, giữa hai con còn bỏ trống một ô. Electroar đẩy lùi để quái không chạm được Sparkdoe, trong lúc giáo sét xuyên dọc làn.

Phần lớn bàn giữ nguyên từ 7-40, Snoozebo dẫn đầu làn 5 trước Stalkerix, Frugagon và Cluckeroo. Pyrohound, Cheerling và Ignisnap chất đầy làn 2 bằng lửa và hiệu ứng tăng sức, còn Cobbledon, Turtuff và Punchimp giữ làn 3 y như bức tường trước đó.

Mở trang màn 7-50 →

Màn 7-60

6 đội hình · Level đề xuất: 142–150

Ghi chú về màn 7-60

Ở 7-60 đừng mong tìm được con rẻ tiền nào thay Cheerling. Có người thử đem Rubblet ra làm hỗ trợ tạm và kể là không ăn thua gì, mà cũng dễ hiểu: Rubblet là hộ vệ bắn tia, chẳng hồi máu cũng chẳng tăng sức cho ai. Con thay thế mà người khác thật sự đã dùng ở đây là Cheerlet, tức Cheerling đã tiến hoá.

Đội hình 1 đặt ổ hỗ trợ ở làn 3. Ospisces đứng đầu tung sóng và xoáy nước gom quái lại, Cheerling phía sau hồi máu và tăng công/thủ, còn Capypapa ở cuối bóc cam hồi máu cho con nào đang mất máu. Nhờ vậy giữa bàn luôn vững, để hai bên cánh lo việc hạ quái.

Mảnh mới là Buddi. Từ giữa làn 1, nó chiếu nắng hồi máu cho Stalkerix phía trước và tăng công cho nó, còn quả gai nổ của Frugagon làm chậm từ phía sau. Đã có người dùng Cluckeroo thay Buddi, và Sackling hoặc Pearpair thay Stalkerix.

Làn 2 là ổ lửa quen thuộc: Pyrohound, Ignisnap và mìn của Embertail. Electroar đứng trước Sparkdoe và Frostpaw ở làn 4, còn Cobbledon, Turtuff và Punchimp giữ làn 5.

Mở trang màn 7-60 →

Màn 7-70

10 đội hình · Level đề xuất: 143–164

Ghi chú về màn 7-70

7-70 kết thúc bằng một cuộc đua sát thương với trùm, và nhiều lần qua màn vừa sát nút, có lần còn đúng bốn giây trên đồng hồ. Nếu bạn hết giờ mà trùm còn một vạch máu, cách mà người chơi hay nhắc nhất là cho linh thú ăn: nâng chỉ số trước rồi hẵng xếp lại đội. Có người cho con hươu ăn và đã suýt qua.

Đội hình 1 dựa vào sức ép của sét. Làn 3 là lõi: Zappur đứng đầu đẩy lùi, Rockfu phía sau vung chuỳ, thỉnh thoảng gọi thêm bản sao, sóng xung kích của Zapuni văng lan, còn Boltskipper ở cuối trói chân. Làn 5 góp thêm đòn sét dây chuyền của Zapooch, Voltkit và giáo xuyên của Sparkdoe.

Con đáng giữ nhất là Bubbit. Lớp sương dày của nó ở làn 2 vừa làm chậm vừa làm quái dễ vỡ, nên cả bàn đánh đau hơn; Waddledo đứng trước che chắn, mây sét của Fluffle phía sau thì cứ thế mà đánh.

Có một gợi ý để tăng sát thương: dời con khỉ vào giữa, rồi đặt kỳ lân hoặc Boltskipper ở làn ngoài cùng bên trái; cũng có người qua màn mà không cần ếch T3 hay rùa T2. Pearpair, Cheerling và Ignisnap lấp làn 4; Kitjitsu từng được dùng thay Pearpair.

Mở trang màn 7-70 →

Màn 7-80

10 đội hình · Level đề xuất: 145–161

Ghi chú về màn 7-80

Cái khó ở 7-80 là một con quái hệ sét cứ lọt qua mãi. Có người xử lý bằng cách đặt Rockzilla ở làn 5 để hạ nó, người khác thì bảo dồn hai con vào làn đầu gần như giữ được, là có thể sót một con. Vậy nên đổi gì thì đổi, nhớ để hai làn ngoài đủ sát thương mà kết liễu nó.

Đội hình 1 xử lý bằng một kiểu xếp lạ: đưa con hồi máu lên đầu. Capypapa dẫn làn 2, hồi máu từ hàng hai trong lúc Frostpaw và Pyrohound phía sau lo phần sát thương. Cheerlet cũng mở làn 4 y như vậy, Sparkdoe phóng giáo xuyên phía sau, Electroar đẩy lùi từ cuối làn; có người dùng Gibber thay Cheerlet ở đó.

Làn 3 xếp sâu nhất: Snoozebo đứng đầu vừa bắn gai vừa tự hồi máu, Cluckeroo hồi máu phía sau, quả gai của Frugagon nổ và làm chậm, Stalkerix chém từ cuối làn. Nhìn sang làn 1: Turtuff che chắn cho mìn của Embertail và tia tách đôi của Cobbledon.

Về cách xếp, làn 5 là làn mỏng, bong bóng làm chậm của Boldclaw ở trước, Swaystroll ở tít sau cùng, và đó chính là chỗ mà gợi ý Rockzilla phát huy. Sparkit và Firecoil cũng từng được đổi vào thay Swaystroll.

Mở trang màn 7-80 →

Đội hình được đánh số theo thứ tự hiển thị ở trên, tính từ trái sang phải, từ trên xuống.

Đội hình được chọn lọc từ cộng đồng và chạy thử trước khi đăng · Hình: Clash of Critters Wiki