Bỏ qua, tới nội dung chính
← Tất cả màn Võ đường

Võ đường Đá stage 1

10 màn · 30 đội hình

Nhỏ mà lì là cách tả đúng nhất cho cấp 1 võ đường đá. Bảy màn đầu dùng chung một bàn trên làn 1 tới 3, làn 4 và 5 để trống: Snoozebo đứng đầu làn 1 với Shardsnail phía sau, Drilleroo một mình ở làn 2, Rubblet dẫn làn 3 còn Taptail ở cuối. Con nào cũng đang ở dạng gốc. Ba màn cuối xáo nhẹ, lần lượt đặt Drilleroo rồi Gibber ngay sau Snoozebo ở làn 2, còn rock-1-10 bỏ trống làn 2 để biến làn 1 thành cột ba con. Từ rock-1-3 trở đi, Rockhog được ghi là con thay được cho Shardsnail.

Snoozebo là cái neo. Gai của nó xuyên qua quái, lúc lim dim lại tự hồi máu, nên nó giữ một làn một mình được lâu tới bất ngờ. Tia sáng xanh của Rubblet phủ cả một vùng và làm tường khá ổn bên phải, còn sát thương của Taptail tới theo từng đợt, vài sóng âm chậm rãi rồi một tràng dồn dập. Shardsnail dựng một cụm pha lê ngay khi trận bắt đầu, vì thế nó thích đứng hàng cuối. Drilleroo đứng lẻ là điểm yếu của bàn đầu, nên nếu làn giữa sập thì đó là chỗ cần dồn cấp.

Tóm tắt

Tatari xuất hiện nhiều nhất
  • Rubblet
  • Snoozebo
  • Taptail
  • Drilleroo
  • Gibber
Hệ

VD: 3-5

Màn 1-1

3 đội hình

Ghi chú về võ đường Đá 1-1

Võ đường Đá mở màn bằng một bàn khá mỏng: năm con, không con hồi máu, và ngoài Snoozebo ra thì chẳng con nào vượt quá dạng đầu. Cái khó nằm ở đó. Con nào cũng phải tự sống bằng máu của mình, nên thứ tự đặt quân quan trọng hơn sát thương thuần.

Đội hình 1 bố trí những con lì đòn ở hai góc. Snoozebo đứng hàng 1 làn 1, Rubblet đứng hàng 1 làn 3, nên quái đi hai làn ngoài đều đụng con chặn trước tiên. Drilleroo lùi một hàng ở làn giữa, quái nào lách qua hai góc vẫn phải ăn vuốt của nó. Hai con bắn xa là Shardsnail bên trái và Taptail bên phải thì chờ ở hàng 4, cách xa trận chiến nhất có thể.

Cách đánh rất dễ hình dung. Hai con đầu gánh từng đợt quái, con giữa xô quái lệch hướng, còn hàng cuối dồn sát thương trong lúc tuyến đầu còn trụ. Một góc mà sập thì con bắn phía sau lộ ra, trước mặt chỉ còn ba hàng trống.

Lưới này giữ nguyên tới võ đường Đá 1-7, nên xếp xong là dùng được cho cả chặng mở đầu. Tiền nâng cấp lúc đầu nên dồn cho hai con đứng trước đã.

Mở trang màn Đá 1-1 →

Màn 1-2

3 đội hình

Ghi chú về võ đường Đá 1-2

So với 1-1 thì không có gì xê dịch, nên trang này nói về con duy nhất bàn này không được mất: Snoozebo, linh thú dạng thứ hai duy nhất trong đội.

Snoozebo đứng hàng 1 làn 1, vừa ngủ gật vừa bắn gai xuyên, ngáy tới đâu tự hồi máu tới đó. Bàn đã không có con hồi máu thì chính khả năng tự hồi này là lý do góc trái trụ được. Gai của nó lại xuyên qua mục tiêu, nên cả dãy quái đang dồn vào nó đều dính đòn, còn Shardsnail ở sau ba hàng có thời gian làm việc.

Đổi lại, Snoozebo tự mình hạ quái khá chậm. Nó thắng bằng cách trụ lâu chứ không phải dồn sát thương, vì vậy nâng cấp cho nó có lời lâu dài hơn mọi con ở hàng cuối.

Một đội hình khác cho màn này đưa Snoozebo lên đầu làn giữa, nhường ô làn 1 cho Gibber, con dạng đầu ném mai xoay xuyên dọc làn. Ở bản đó Rockhog đứng sau Gibber ở hàng 3, còn bên phải vẫn là Rubblet với Taptail phía sau.

Xếp kiểu nào thì Snoozebo cũng đứng hàng đầu. Nếu con Snoozebo nhà bạn yếu hơn phần còn lại, cứ đặt nó vào làn bị dồn ép nhiều nhất.

Mở trang màn Đá 1-2 →

Màn 1-3

3 đội hình

Ghi chú về võ đường Đá 1-3

Chỗ hở của bàn này là khoảng trống ở làn 1. Snoozebo giữ hàng 1, Shardsnail chờ ở hàng 4, hai hàng ở giữa bỏ trống, nên con nào lọt qua tuyến đầu là thong thả đi thẳng xuống cuối.

Shardsnail là con bắn xa dạng đầu, vào trận là cắm một khối pha lê rồi bắn mảnh pha lê. Khối pha lê có mặt trước cả đợt quái đầu tiên, nên bên trái được thêm chút sức ép ngay từ đầu. Cái Shardsnail thiếu là cách làm chậm hay chặn một con quái đã tới sát nó, và nó cũng không chịu được nhiều đòn.

Một đội hình khác vá đúng chỗ hở này. Rockhog, con bắn bùn dạng thứ hai, vào hàng 3 làn 1 và bắn bùn liên tục làm chậm mọi thứ đang đi dọc làn. Quái vì thế đứng lâu hơn trong tầm gai của Snoozebo, và giữa tuyến đầu với hàng cuối có thêm một con đứng chắn. Ở bản đó Rubblet sang đầu làn 1, Snoozebo dời vào giữa, Gibber giữ làn 3.

Còn nếu giữ nguyên Đội hình 1, cách vá đơn giản nhất là nâng cấp Snoozebo để ít quái chạm được tới khoảng trống đó.

Mở trang màn Đá 1-3 →

Màn 1-4

3 đội hình

Ghi chú về võ đường Đá 1-4

Làn giữa chỉ có một con, và rất dễ bị xem nhẹ. Drilleroo đứng hàng 2 làn 2, lùi sau hai con chặn ở góc một hàng, trước mặt không ai, sau lưng cũng không ai.

Drilleroo là con chuyên biệt dạng đầu. Nó cào trúng một vùng, thỉnh thoảng tung cú đánh nặng hất quái sang hàng bên cạnh; con nào không hất đi được thì bị xé giáp. Ở bàn này cú hất đó rất có ích, vì hàng bên cạnh chính là làn 1 hoặc làn 3, nơi gai của Snoozebo và tia lửa của Rubblet đang chờ sẵn. Drilleroo không cần hạ nhiều quái. Nó chỉ cần giữ cho làn giữa không thành đường thẳng xuống cuối bàn.

Điểm yếu của nó là không ai che. Bàn không có con hồi máu, nên nó sống bằng máu của chính mình; khi nó gục thì thường là do một góc đã sập trước, quái bắt đầu ập tới từ nhiều phía.

Một đội hình khác bỏ Drilleroo ở giữa và dồn quân vào làn này: Joeyo, con đấm dạng đầu, đứng trước, Gopher đứng ngay sau bắn bùn. Làn giữa có hẳn con chặn, đổi lại mất cú hất.

Mở trang màn Đá 1-4 →

Màn 1-5

3 đội hình

Ghi chú về võ đường Đá 1-5

Rubblet là bức tường bên phải, và khác Snoozebo bên trái, nó không có cách nào hồi máu. Nó đứng hàng 1 làn 3, bắn tia lửa xanh nóng rực gây sát thương cả vùng, nên đám quái nào dồn cục trước mặt nó là cùng ăn tia.

Chính khác biệt đó quyết định góc nào sập trước. Snoozebo vừa đánh vừa hồi; Rubblet chỉ có mất máu. Đợt quái kéo dài thì bên phải thường gục trước, mà Rubblet đã ngã thì Taptail ở hàng 4 chẳng còn gì chắn trước mặt.

Rubblet cũng là khởi đầu của một dòng về sau rất đáng giá. Nó tiến hoá thành Cobbledon, con có tia lửa tách ra phủ rộng, và dạng thứ hai này xuất hiện thường xuyên ở các bàn võ đường Đá phía sau. Nâng cấp cho nó bây giờ không phí.

Một đội hình khác cho chuỗi này đổi hai góc cho nhau: Rubblet sang đầu làn 1 với Rockhog cách hai hàng phía sau, còn Gibber nhận đầu làn 3. Bản nào Rubblet cũng giữ một ô ở hàng đầu, đủ thấy bàn này dựa vào nó nhiều thế nào.

Nếu bạn toàn thua ở làn 3 thì nâng Rubblet trước khi đụng tới con nào khác.

Mở trang màn Đá 1-5 →

Màn 1-6

3 đội hình

Ghi chú về võ đường Đá 1-6

Taptail đứng cuối làn 3, sau Rubblet ba hàng, và sát thương của nó tới theo từng đợt chứ không đều đặn. Nó bắn vài sóng âm chậm, rồi một tràng nhanh, rồi lặp lại từ đầu.

Nhịp đó cho thấy bên phải vận hành ra sao. Lúc Taptail đang ở pha chậm thì tia lửa của Rubblet gánh phần lớn việc hạ quái; tới tràng nhanh, đám quái đang kẹt ở chỗ Rubblet bị đánh dồn một lượt. Cặp này mạnh nhất khi tuyến đầu trụ đủ lâu cho vài vòng như thế.

Nhìn cả bàn, Taptail và Shardsnail cùng nằm hàng 4, mỗi con một làn ngoài, Drilleroo ở trước hai hàng ở làn giữa. Hàng cuối đó là nơi sát thương của đội dồn lại, và nó chỉ phát huy khi hai góc còn đứng.

Cách xếp đổi góc vẫn giữ Taptail ở làn 3 nhưng đẩy nó lên hàng 3, sau Gibber. Gần hơn một hàng thì đợt sóng âm chạm quái sớm hơn, nhưng nó cũng đứng sát trận đánh hơn.

Taptail là dạng đầu của dòng về sau thành Rattlecoil rồi Clangnaga, những con có sóng âm nhanh gây choáng được. Đáng giữ lại và nâng dần cho các bàn võ đường phía trước.

Mở trang màn Đá 1-6 →

Màn 1-7

3 đội hình

Ghi chú về võ đường Đá 1-7

Màn cuối của chặng mở đầu là lúc hợp để tự hỏi đội mình cần mạnh tới đâu. Đội hình 1 chỉ đòi một con dạng thứ hai là Snoozebo; còn lại toàn dạng đầu.

Một đội hình khác cho các màn này còn nhẹ đòi hỏi tiến hoá hơn nữa. Nó bỏ hẳn Snoozebo và ra sân năm con dạng đầu: Drilleroo đứng đầu làn 1, Joeyo đứng đầu làn giữa với Gopher phía sau, Momopo đứng đầu làn 3 với Punchimp phía sau. Momopo thả nụ hôn gây sát thương vùng, đánh đau hơn lên quái đang dễ vỡ, hạ được quái thì dừng lại hồi máu, nên bên phải vẫn có chút sức trụ. Gopher bắn bùn liên tục nhưng chui xuống đất khi quái áp sát.

Bản đó đánh ngay ở tuyến đầu thay vì giữ con bắn xa ở hàng 4, hợp với đội chưa kịp nuôi hàng sau.

Nếu lưới gốc vẫn thua ở màn này thì hiếm khi là do cách đặt. Hãy xem Snoozebo và Rubblet đã được nâng cấp chưa, vì hai góc gánh cả chuỗi. Màn kế tiếp dời Snoozebo vào làn giữa, nên đây là lần cuối bàn này xuất hiện y nguyên.

Mở trang màn Đá 1-7 →

Màn 1-8

3 đội hình

Ghi chú về võ đường Đá 1-8

Sau bảy màn chung một lưới, rock-1-8 xáo lại tuyến đầu. Snoozebo rời làn 1, lên hàng 1 làn giữa, Drilleroo đứng ngay sau ở hàng 2. Rubblet vẫn giữ hàng 1 làn 3 với Taptail ở cuối, còn làn 1 chỉ còn Shardsnail ở hàng 4.

Góc trái bỏ trống là thứ làm màn này khó hơn. Quái đi làn 1 không đụng ai cho tới khi chạm Shardsnail, nên khối pha lê và mảnh pha lê của nó phải tự xoay xở.

Cột giữa là chỗ mạnh nhất. Snoozebo gánh đòn và ngủ gật hồi máu, Drilleroo cào ngay sau lưng; cú đánh nặng của nó hất quái sang ngang, mà ở bàn này hất sang ngang thường là rơi đúng vào tia lửa của Rubblet.

Các phương án thay đều nhắm vào bên trái. Một bản đặt Gibber ở hàng 1 làn 1 và Rockhog ở hàng 3 thay cho Shardsnail, để làn này có con ném mai đứng trước và bùn làm chậm phía sau. Bản nặng tay hơn thì đưa Drilleroo cùng Punchimp vào làn 1, Joeyo với Gopher ở giữa, Momopo đứng đầu bên phải.

Nếu giữ Đội hình 1, hãy nâng Shardsnail trước, vì một mình nó giữ làn 1.

Mở trang màn Đá 1-8 →

Màn 1-9

3 đội hình

Ghi chú về võ đường Đá 1-9

Màn này giữ khung của 1-8 nhưng đổi con thứ hai ở làn giữa: Gibber giờ đứng hàng 2 làn 2, ngay sau Snoozebo, đúng chỗ Drilleroo đứng trước đây.

Gibber là hộ vệ dạng đầu, ném mai xoay thẳng dọc làn, xuyên qua mọi thứ trên đường bay. Ghép với gai xuyên của Snoozebo, làn giữa giờ đánh cả hàng quái hai lần: đám đang dồn vào Snoozebo vừa ăn gai phía trước vừa ăn mai từ phía sau. Snoozebo tự hồi máu khi ngủ gật nên Gibber hiếm khi phải lo mất người che.

Cái bàn này mất đi là cú hất của Drilleroo, nên quái không còn bị văng từ giữa ra hai làn ngoài nữa. Làn nào tự lo lượng quái của làn đó.

Làn 1 vẫn là bên yếu, chỉ có Shardsnail ở hàng 4. Cách xếp thay thế vá chỗ này bằng cách đưa Snoozebo lên hàng 1 làn 1, Gibber thay vào đầu làn giữa, Rockhog vào hàng 3 làn 1 thay cho Shardsnail. Bên phải, Rubblet đứng trước và Taptail phía sau, giữ nguyên trong mọi bản.

Nâng Snoozebo vẫn là khoản có lời nhất, vì tuỳ bản xếp mà nó gánh làn này hay làn kia.

Mở trang màn Đá 1-9 →

Màn 1-10

3 đội hình

Ghi chú về võ đường Đá 1-10

Chương đầu của võ đường Đá khép lại bằng một bàn lệch hẳn sang một bên. Làn 2 bỏ trống, làn 1 thành một cột: Snoozebo hàng 1, Gibber hàng 3, Shardsnail hàng 4. Làn 3 vẫn là Rubblet đứng trước, Taptail ở cuối.

Cột bên trái là làn mạnh nhất cả chương. Snoozebo chặn và hồi máu, mai của Gibber bay lên xuyên qua đám quái đang dồn vào nó, còn Shardsnail góp khối pha lê và mảnh pha lê từ tận cuối. Quái nào đi bên này cũng ăn ba lớp sát thương.

Vấn đề nằm ở bên phải. Rubblet không tự hồi máu, mà làn giữa lại trống, nên quái lẽ ra đi làn 2 sẽ dạt ra hai làn ngoài và Rubblet thường phải gánh nhiều hơn phần của nó. Rubblet ngã là Taptail đứng trơ trọi.

Cách xếp thay thế dàn quân đều ra: Rubblet hàng 1 làn 1 với Rockhog hàng 3 thay cho Gibber, Snoozebo đứng đầu làn giữa, Gibber chuyển sang hàng 1 làn 3. Bản đó làn nào cũng có con chặn ở đầu.

Nếu dùng Đội hình 1, hãy nâng Rubblet trước tiên. Chương sau dựa nhiều vào các dạng tiến hoá, nên bắt đầu nuôi Rubblet lên dạng thứ hai từ bây giờ.

Mở trang màn Đá 1-10 →

Đội hình được đánh số theo thứ tự hiển thị ở trên, tính từ trái sang phải, từ trên xuống.

Đội hình được chọn lọc từ cộng đồng và chạy thử trước khi đăng · Hình: Clash of Critters Wiki